Luận văn thạc sĩ ueh gỉải pháp nâng cao khả năng vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ tại khu vực phía nam việt nam

Luận văn thạc sĩ UEH đề xuất giải pháp nâng cao tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính cho các công ty kiểm toán độc lập tại miền Nam Việt Nam.

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

131
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRỌNG YẾU VÀ VẬN DỤNG TÍNH TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VỪA VÀ NHỎ

1.1. Tổng quan về Doanh nghiệp vừa và nhỏ và Doanh nghiệp kiểm toán vừa và nhỏ

1.2. Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN)

1.3. Tổng quan về doanh nghiệp kiểm toán độc lập vừa và nhỏ

1.4. Tổng quan về trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính

1.5. Khái niệm về trọng yếu trong kế toán và kiểm toán

1.6. Tầm quan trọng tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính

1.6.1. Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán

1.6.2. Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán

1.6.3. Trong giai đoạn hoàn thành kiểm toán

1.7. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc xét đoán tính trọng yếu

1.7.1. Quy mô, đặc điểm, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp

1.7.2. Rủi ro kiểm toán

1.7.3. Cân đối giữa chi phí và lợi ích

1.8. Các nghiên cứu về trọng yếu

1.8.1. Yêu cầu có hướng dẫn rõ ràng về khái niệm trọng yếu

1.8.2. Tập trung vào khía cạnh định lượng

1.8.3. Tập trung vào nhân tố định tính

1.9. Lịch sử ra đời và phát triển chuẩn mực kiểm toán quốc tế về tính trọng yếu

1.9.1. Kinh nghiệm vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán tại Hoa Kỳ

1.9.1.1. Trong giai đoạn lập kế hoạch
1.9.1.2. Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán
1.9.1.3. Trong giai đoạn hoàn thành kiểm toán

1.9.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.10. Cần cập nhật các chuẩn mực kiểm toán nói chung và chuẩn mực về tính trọng yếu nói riêng

1.11. Cần có hướng dẫn chi tiết về xác lập mức trọng yếu

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC VẬN DỤNG TÍNH TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BCTC Ở CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VỪA VÀ NHỎ TẠI KHU VỰC PHÍA NAM VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Các quy định liên quan đến tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam

2.2. Các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập

2.3. Các quy định liên quan đến tính trọng yếu

2.4. Thực trạng của việc vận dụng tính trọng yếu trong thực hiện kiểm toán BCTC tại các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ tại khu vực phía Nam Việt Nam hiện nay

2.4.1. Đối tượng khảo sát

2.4.2. Phương pháp khảo sát

2.4.3. Kết quả khảo sát

2.4.3.1. Thông qua bảng trả lời câu hỏi và phỏng vấn KTV
2.4.3.2. Tại các công ty kiểm toán có quy mô vừa
2.4.3.3. Tại các công ty kiểm toán có quy mô nhỏ

2.4.4. Thực trạng áp dụng tính trọng yếu qua báo cáo kiểm soát chất lượng của bộ tài chính và hội nghề nghiệp

2.4.4.1. Đối với các công ty kiểm toán vừa
2.4.4.2. Đối với các công ty kiểm toán nhỏ

2.4.5. Phân tích mối quan hệ trọng yếu với các nhân tố khác

2.4.6. Đánh giá chung

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VIỆC VẬN DỤNG TÍNH TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN VỪA VÀ NHỎ

3.1. Quan điểm xác lập giải pháp

3.1.1. Từng bước hội nhập quốc tế. Phù hợp đặc điểm, điều kiện của Việt Nam

3.1.2. Phải phù hợp với xu thế tin học hóa

3.2. Giải pháp về phía các công ty kiểm toán

3.2.1. Quy định bằng văn bản hướng dẫn về việc áp dụng tính trọng yếu trong kiểm toán và tăng cường kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán

3.2.2. Vận dụng tính trọng yếu trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán

3.2.3. Vận dụng tính trọng yếu trong giai đoạn thực hiện kiểm toán

3.2.4. Vận dụng tính trọng yếu trong giai đoạn hoàn thành kiểm toán

3.2.5. Cập nhật chương trình đào tạo, huấn luyện nội bộ nhằm hướng dẫn cho KTV thực hiện vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán

3.2.6. Một số kiến nghị hỗ trợ nâng cao khả năng vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ

3.2.6.1. Đối với công ty kiểm toán
3.2.6.2. Đối với Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA)
3.2.6.2.1. Tăng cường kiểm soát chất lượng trong đó kiểm soát về việc vận dụng trọng yếu trong kiểm toán
3.2.6.2.2. Cần yêu cầu các công ty kiểm toán nhỏ tuân thủ chương trình kiểm toán mẫu do VACPA xây dựng
3.2.6.2.3. VACPA cần hoàn thiện chương trình kiểm toán mẫu
3.2.6.2.4. VACPA cần ứng dụng công nghệ thông tin vào việc vận dụng tính trọng yếu
3.2.6.3. Đối với nhà nước
3.2.6.4. Đối với nhà trường và các tổ chức đào tạo
3.2.6.5. Kiến nghị khác

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính

Tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính là một khái niệm quan trọng, giúp kiểm toán viên xác định những thông tin nào là cần thiết để đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính. Đặc biệt, trong bối cảnh các công ty kiểm toán nhỏ ở miền Nam Việt Nam, việc hiểu rõ và vận dụng tính trọng yếu là rất cần thiết để nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán.

1.1. Khái niệm về tính trọng yếu trong kiểm toán

Tính trọng yếu trong kiểm toán được định nghĩa là mức độ mà thông tin sai lệch hoặc thiếu sót có thể ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính. Việc xác định tính trọng yếu giúp kiểm toán viên tập trung vào các vấn đề quan trọng nhất trong quá trình kiểm toán.

1.2. Tầm quan trọng của tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính

Tính trọng yếu không chỉ giúp kiểm toán viên xác định các lĩnh vực cần chú ý mà còn giúp tối ưu hóa quy trình kiểm toán. Đối với các công ty kiểm toán nhỏ, việc áp dụng đúng mức trọng yếu có thể giảm thiểu rủi ro và nâng cao độ tin cậy của báo cáo tài chính.

II. Vấn đề và thách thức trong việc vận dụng tính trọng yếu

Mặc dù tính trọng yếu là một khái niệm quan trọng, nhưng việc vận dụng nó trong thực tế tại các công ty kiểm toán nhỏ ở miền Nam Việt Nam gặp nhiều thách thức. Các công ty này thường thiếu nguồn lực và kinh nghiệm, dẫn đến việc áp dụng không hiệu quả.

2.1. Thiếu hụt nguồn lực và kinh nghiệm

Nhiều công ty kiểm toán nhỏ không có đủ nhân lực có kinh nghiệm để xác định và áp dụng tính trọng yếu một cách chính xác. Điều này có thể dẫn đến việc bỏ sót các thông tin quan trọng trong báo cáo tài chính.

2.2. Khó khăn trong việc xác định mức trọng yếu

Việc xác định mức trọng yếu phù hợp là một thách thức lớn. Các công ty kiểm toán nhỏ thường không có đủ dữ liệu và công cụ để thực hiện việc này một cách chính xác, dẫn đến việc đưa ra các quyết định không chính xác trong quá trình kiểm toán.

III. Giải pháp nâng cao tính trọng yếu trong kiểm toán

Để nâng cao khả năng vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính, các công ty kiểm toán nhỏ cần áp dụng một số giải pháp cụ thể. Những giải pháp này không chỉ giúp cải thiện chất lượng kiểm toán mà còn tăng cường độ tin cậy của báo cáo tài chính.

3.1. Đào tạo và nâng cao năng lực cho kiểm toán viên

Đào tạo thường xuyên cho kiểm toán viên về tính trọng yếu và các phương pháp kiểm toán hiện đại là rất cần thiết. Điều này giúp họ có thể áp dụng các kiến thức mới vào thực tiễn kiểm toán.

3.2. Cải thiện quy trình kiểm toán

Cần xây dựng quy trình kiểm toán rõ ràng, trong đó xác định rõ các bước cần thực hiện để đánh giá tính trọng yếu. Việc này giúp kiểm toán viên có thể tập trung vào các vấn đề quan trọng và giảm thiểu rủi ro.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Việc áp dụng tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính đã cho thấy những kết quả tích cực tại một số công ty kiểm toán nhỏ ở miền Nam Việt Nam. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng đúng mức trọng yếu giúp nâng cao chất lượng báo cáo tài chính và giảm thiểu rủi ro kiểm toán.

4.1. Kết quả khảo sát về tính trọng yếu

Kết quả khảo sát cho thấy rằng các công ty kiểm toán nhỏ đã bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của tính trọng yếu và đang dần cải thiện quy trình kiểm toán của mình.

4.2. Các trường hợp thành công trong việc áp dụng tính trọng yếu

Một số công ty kiểm toán nhỏ đã áp dụng thành công các giải pháp nâng cao tính trọng yếu, từ đó cải thiện chất lượng dịch vụ và tăng cường sự tin tưởng từ phía khách hàng.

V. Kết luận và tương lai của tính trọng yếu trong kiểm toán

Tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính là một yếu tố không thể thiếu trong việc đảm bảo chất lượng thông tin tài chính. Đối với các công ty kiểm toán nhỏ ở miền Nam Việt Nam, việc nâng cao khả năng vận dụng tính trọng yếu sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của ngành kiểm toán.

5.1. Tương lai của tính trọng yếu trong kiểm toán

Trong tương lai, việc áp dụng công nghệ thông tin vào quy trình kiểm toán sẽ giúp các công ty kiểm toán nhỏ nâng cao khả năng vận dụng tính trọng yếu một cách hiệu quả hơn.

5.2. Khuyến nghị cho các công ty kiểm toán nhỏ

Các công ty kiểm toán nhỏ cần chủ động tìm kiếm các nguồn lực hỗ trợ và cải thiện quy trình làm việc để có thể áp dụng tính trọng yếu một cách hiệu quả nhất.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh gỉải pháp nâng cao khả năng vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ tại khu vực phía nam việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về trọng yếu và vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ. Chương 2: Thực trạng của việc vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính ở các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ tại khu vực phía Nam Việt Nam hiện nay Chương 3: Giải pháp nâng cao việc vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty kiểm toán vừa và nhỏ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRỌNG YẾU VÀ VẬN DỤNG TÍNH TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VỪA VÀ NHỎ 1. Tổng quan về Doanh nghiệp vừa và nhỏ và Doanh nghiệp kiểm toán vừa và nhỏ 1.

Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) Doanh nghiệp có thể phân chia thành doanh nghiệp có quy mô lớn, vừa và nhỏ. Thế nhưng, tiêu chí để phân loại DN không đồng nhất giữa các quốc gia trên thế giới. Ngay trong cùng một quốc gia, những tiêu chí này cũng có thể thay đổi theo thời gian phụ thuộc vào sự phát triển của doanh nghiệp, đặc điểm nền kinh tế hay tốc độ phát triển kinh tế của quốc gia đó. Tuy nhiên, các tiêu chí phổ biến nhất được nhiều quốc gia sử dụng là: số lượng lao động bình quân mà doanh nghiệp sử dụng trong năm, tổng mức vốn đầu tư của doanh nghiệp, tổng doanh thu hàng năm của doanh nghiệp.1: Tiêu chí phân loại DNVVN của một số quốc gia và khu vực Quốc gia/ Phân loại DN vừa Số lao động bình Vốn đầu tƣ Doanh thu Khu vực và nhỏ quân A.

Nhóm các nước phát triển Không quy Không quy 1. Hoa kỳ* Nhỏ và vừa 0-500 định định Không quy Không quy 2. Australia* Nhỏ và vừa < 200 định định 3. New Không quy Không quy Nhỏ và vừa < 50 Zealand* định định Không quy Không quy 4.

Korea* Nhỏ và vừa < 300 định định < NT$ 80 < NT$ 100 5. Taiwan* Nhỏ và vừa < 200 triệu triệu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Quốc gia/ Phân loại DN vừa Số lao động bình Vốn đầu tƣ Doanh thu Khu vực và nhỏ quân B. Nhóm các nước đang phát triển < Baht 200 Không quy 1. Thailand* Nhỏ và vừa Không quy định triệu định Peso 1,5-60 Không quy 2.

Philippine* Nhỏ và vừa < 200 triệu định < US$ 5 3. Indonesia* Nhỏ và vừa Không quy định < US$ 1 triệu triệu C. Nhóm các nước kinh tế đang chuyển đổi Nhỏ 1-249 Không quy Không quy 1. Russia** Vừa 250-999 định định Nhỏ 50-100 Không quy Không quy 2.

China* Vừa 101-500 định định Nhỏ < 50 Không quy Không quy 3. Poland*** Vừa 51-200 định định Nguồn: 1) Doanh nghiệp vừa và nhỏ, APEC, 1998 (*); 2) Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ, UN/ECE, 1999 (**) 3) Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ, OECD, 2000 (***) Tại các quốc gia thuộc cộng đồng chung Châu Âu (EU), các DNVVN lại được phân chia thành DN vừa, nhỏ và siêu nhỏ. Tiêu chí để phân loại như sau: Bảng 1.2: Bảng tiêu chí để phân loại doanh nghiệp thành siêu nhỏ, nhỏ và vừa tại các quốc gia thuộc cộng đồng chung Châu Âu Tiêu chí Vừa Nhỏ Siêu nhỏ Số lượng lao động tối đa 250 50 10 Tổng doanh thu tối đa (triệu đôla Mỹ) 50 10 2 Nguồn tài sản tối đa (triệu đôla Mỹ) 43 10 2 Nguồn: www.int LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Tại Hoa Kỳ, tiêu chuẩn chung của DNVVN là DN có số nhân viên dưới 500 người. Ngoài ra, ngoài tiêu chí người lao động còn phải dựa vào các tiêu chí khác như ngành nghề hoạt động, doanh thu.3: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ ở Hoa Kỳ theo ngành nghề hoạt động Doanh thu hàng Số lƣợng lao Ngành năm động tối đa Nông lâm ngư nghiệp $500.000 9 Kiến trúc, thiết kế, xây dựng $2.000 30 Giáo dục, tài chính, bảo hiểm, bất động sản $1.000 9 Chế tạo, sản xuất $2.000 99 Nguồn: KPMG’s Department (07/2009), IASB Issues Simplified Version of IFRS that U.Nonpublic companies may use.

Tại Hàn Quốc: tiêu chuẩn chung của DNVVN là DN có số nhân viên dưới 300 người, tổng vốn không quá 8 tỷ Won. Song, đối với mỗi ngành, mỗi lĩnh vực cụ thể khác nhau, có tiêu chí không hoàn toàn giống nhau.4: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ ở Hàn Quốc theo ngành nghề hoạt động DN vừa DN nhỏ DN siêu nhỏ Ngành nghề Số lƣợng Vốn và doanh Số lƣợng lao Số lƣợng lao động thu động lao động Sản xuất, chế tạo <300 người Vốn ≤ 8 tỷ Won <50 người <10 người Khai khoán, Xây dựng, Giao thông vận tải <300 người Vốn ≤ 3 tỷ Won <50 người <10 người Khách sạn, viễn thông, Doanh thu ≤ 30 <300 người <10 người <5 người bệnh viện tỷ Won Nhiên liệu, nghề cá, Doanh thu ≤ 20 <200 người <10 người <5 người điện, gas, nước tỷ Won Nguồn: Asia – Pacific Research and Training Network on Trade (4/2009), Small and Medium Enterprises Adjustments to Information Technology in Trade Facilitation: The South Korean Experience. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Từ số liệu ở các bảng trên cho thấy, đa số các quốc gia chỉ sử dụng 1 trong 3 tiêu thức: hoặc số lượng lao động, hoặc vốn, hoặc doanh thu để đánh giá. Một số quốc gia khác sử dụng kết hợp 2 trong 3 tiêu thức nói trên.

Một số ít quốc gia sử dụng kết hợp cả 3 tiêu thức. Ngoài 3 tiêu thức nói trên, một số quốc gia còn phân loại DN dựa vào lĩnh vực hoạt động. Ngân hàng thế giới (World Bank) và một số tổ chức quốc tế sử dụng tiêu chí số lao động để phân loại DN. Theo World Bank, doanh nghiệp được chia thành 4 loại tương ứng với số lượng lao động như sau: doanh nghiệp siêu nhỏ (số lao động < 10 người), doanh nghiệp nhỏ (số lao động từ 10 người đến dưới 50 người), doanh nghiệp vừa (số lao động từ 50 người đến 300 người), doanh nghiệp lớn (số lao động > 300 người).

Bên cạnh các tiêu thức mang tính định lượng được mỗi quốc gia xác định riêng biệt như trên, các tổ chức kế toán và kiểm toán quốc tế cũng đưa ra các tiêu chuẩn về DNVVN: + Ủy ban quốc tế về chuẩn mực kiểm toán và dịch vụ đảm bảo (IAASB) với mục đích hướng dẫn thực hiện chuẩn mực kiểm toán tại DNVVN, cho rằng DNVVN có những đặc điểm sau: - Chủ DNVVN thường là một hoặc một vài cá nhân - Phạm vi hoạt động của DNVVN hẹp và chỉ kinh doanh một hoặc một số mặt hàng nhất định, vì thế không thể chi phối toàn bộ thị trường hàng hóa - Tổ chức bộ máy kế toán đơn giản, bộ máy kế toán chỉ có một hoặc một vài nhân viên (nhiều DN chỉ có 2-3 người làm kế toán). + Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) với mục đích xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế định nghĩa DNVVN là DN mà: - Không có trách nhiệm báo cáo cho công chúng nhưng phải báo cáo cho người sử dụng bên ngoài (DN có trách nhiệm báo cáo cho công chúng là những DN có các công cụ nợ hoặc công cụ vốn đang được giao dịch trên thị trường hay DN đang trong quá trình cung cấp chúng trên thị trường công khai). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - DN không kinh doanh một số ngành nghề sau: ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm, môi giới chứng khoán, quỹ đầu tư và ngân hàng đầu tư. Các định nghĩa trên cho thấy mỗi quốc gia đều thiết lập những tiêu chuẩn để phân loại DNVVN.

Đối với lĩnh vực kế toán, kiểm toán, IASB và IAASB đã đưa ra tiêu chuẩn dựa vào tính chất nghề nghiệp và đặc điểm của người sử dụng thông tin trên BCTC để xác định DNVVN nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong việc thực hiện công tác kế toán và kiểm toán. Tại Việt Nam, khái niệm về DNVVN được tìm thấy trong nhiều quy định pháp lý khác nhau. Tuy nhiên, vẫn chưa có sự thống nhất về tiêu chuẩn DNVVN trong chế độ kế toán dành cho DNVVN và trong quy định pháp lý liên quan. Theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009, DNVVN được định nghĩa như sau: DNVVN là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1.5: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa, nhỏ, siêu nhỏ theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP Quy mô DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa Khu vực Số lao động Tổng nguồn Số lao động Tổng nguồn Số lao động vốn vốn Nông, lâm 10 người trở 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 nghiệp và xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến thủy sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người Công 10 người trở 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 nghiệp và xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến xây dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người Thương 10 người trở 10 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50 mại và xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến dịch vụ 50 người 50 tỷ đồng 100 người LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Trong khi đó theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 về chế độ kế toán áp dụng cho DNVVN thì khái niệm về DNVVN không được quy định cụ thể.

DNVVN trong quyết định này bao gồm công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã; không bao gồm doanh nghiệp nhà nước, công ty TNHH nhà nước một thành viên, công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán, hợp tác xã nông nghiệp và hợp tác xã tín dụng. Định nghĩa về DNVVN theo Nghị định 56 (chủ yếu căn cứ vào quy mô vốn hoặc lao động) được sử dụng để thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp cho sự phát triển của các DNVVN. Trong khi đó, quyết định do Bộ Tài chính ban hành về khái niệm DN nhỏ, vừa và lớn được sử dụng khi lựa chọn chế độ kế toán áp dụng, không hoàn toàn phụ thuộc vào quy mô vốn hoặc lao động của DN mà phụ thuộc hình thức pháp lý.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ