CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN VĂN 1.1 Lý thuyết cơ bản về ERP 1.1 Khái niệm ERP Enterprise Resources Planning (viết tắt là ERP) là một khái niệm liên quan đến việc tích hợp quy trình kinh doanh và hệ thống gồm nhiều phân hệ chức năng được thiết lập và tùy chỉnh phù hợp với mực đích của doanh nghiệp (Kumar & Hillegersberg, 2000, trang 22-26).2 Quá trình hình thành ERP Những năm 1960 đánh dấu cột mốc đặt viên đá đầu tiên của các hệ thống máy tính doanh nghiệp đầu tiên. Những hệ thống ban đầu này là các hệ thống máy tính cơ bản giúp quản lý các hệ thống kiểm kê hàng tồn kho. Hầu hết các hệ thống được viết bằng các ngôn ngữ lập trình như COBOL, ALGOL. Trong những năm 1960, động lực cạnh tranh chính là chi phí, dẫn đến chiến lược sản xuất tập trung lợi thế kinh tế trên quy mô (sản xuất số lượng lớn) để giảm thiểu chi phí.
Sự ra đời của các hệ thống tính toán điểm đặt hàng tối ưu (Reorder Point) nhằm đáp ứng nhu cầu lập kế hoạch và kiểm soát sản xuất cơ bản. MRP - tiền thân và xương sống của MRP II và ERP - ra đời vào cuối những năm 1960 thông qua nỗ lực chung giữa JI Case, nhà sản xuất máy kéo và máy móc xây dựng khác, hợp tác với IBM. MRP (Material Requirement Planning – Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu) là một hệ thống dựa trên định mức nguyên vật liệu sản xuất (Bill of Materials – BOM), lượng hàng tồn kho và lịch trình sản xuất để tính toán được nhu cầu nguyên vật liệu. Ngoài ra, MRP còn yêu cầu hủy những đơn mua hàng không phù hợp và đưa ra các đề xuất tối ưu hoá việc mua hàng dựa trên thời điểm nhận nguyên vật liệu từ nhà cung cấp và thời điểm thực hiện lệnh sản xuất.
Vào cuối những năm 1970, động lực cạnh tranh chính đã chuyển sang tiếp thị, dẫn đến việc áp dụng các chiến lược thị trường mục tiêu. Các hệ thống MRP phù hợp với yêu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 cầu đó một cách độc đáo vì sự tích hợp giữa dự báo, lập kế hoạch tổng thể, mua sắm, cộng với kiểm soát sản xuất. Giữa những năm 1970 chứng kiến sự ra đời của các công ty phần mềm lớn mà sau này trở thành nhà cung cấp ERP chính. Năm 1972, năm kỹ sư ở Mannheim, Đức, đã khởi nghiệp SAP (Systemanalyse und Programmentwicklung).
Mục đích của công ty là sản xuất và tiếp thị phần mềm tiêu chuẩn cho các giải pháp kinh doanh tích hợp. Tập đoàn Oracle (bởi Larry Ellison) được thành lập vào năm 1977. Oracle đã cung cấp hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu quan hệ SQL (Structured Query Language) đầu tiên vào năm 1979. Vào đầu những năm 1980.
Hệ thống hoạch định nguồn lực sản xuất (Manufacturing Resource Planning - MRP II) bắt đầu được áp dụng, MRP II dựa trên MRP và tập trung quản lý chi phí vận hành sản xuất. Thuật ngữ hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) được đặt ra vào đầu những năm 1990 bởi Tập đoàn Gartner (Wylie, 1990). Định nghĩa về ERP của họ bao gồm các tiêu chí để đánh giá mức độ phần mềm thực sự được tích hợp các phân hệ chức năng khác nhau. Ngày này ERP trở thành phần mềm quản lý tổng thể doanh nghiệp trên tất cả các phương diện được cụ thể hóa thành các phân hệ tương ứng với các quy trình kinh doanh của doanh nghiệp (Quản lý tài chính, Mua hàng, Bán hàng, Marketing, Quản lý kho hàng, Sản xuất, Quản lý dự án, Quản lý nguồn nhân lực, Quản lý dịch vụ, …).
Các phân hệ này tương hỗ lẫn nhau.3 Đặc điểm và lợi ich của ERP 1.1 Đặc điểm Theo Zeng et al. (2003), một hệ thống ERP có các đặc điểm sau: Tính linh hoạt: ERP có khả năng thích ứng với sự thay đổi nhu cầu của tổ chức trong tương lai. Tính toàn diện: Đây là nét đặc trưng và cũng là sự khác biệt cơ bản nhất của ERP so với các phần mềm quản lý rời rạc khác. ERP là phần mềm có cấu trúc phân hệ tập hợp nhiều TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 phân hệ có chức năng riêng.
Các phân hệ này có thể hoạt động độc lập nhưng do bản chất của hệ thống ERP, chúng kết nối với nhau để tự động chia sẻ các thông tin với các phân hệ khác đảm bảo đồng nhất thông tin, giảm việc cập nhật xử lý dữ liệu tại nhiều nơi, cho phép thiết lập các quy trình luân chuyển nghiệp vụ giữa các phòng ban. Tính liên kết: ERP không chỉ liên kết các chức năng/bộ phận của hệ thống mà còn liên kết với bên ngoài doanh nghiệp (liên kết với hệ thống của các đối tác của doanh nghiệp: nhà cung cấp, khách hàng, ngân hàng …để trao đổi dữ liệu khi cần thiết) 1.2 Lợi ích Theo Poston và Grabski (2001), các lợi ích khi sử dụng hệ thống ERP bao gồm: cải thiện quá trình ra quyết định, dữ liệu được cập nhật kịp thời và chính xác hơn, gia tăng sự hài lòng của khách hàng, linh hoạt với những thay đổi liên tục của môi trường Theo Shang và Seddon (2002), lợi ích của ERP gồm 5 nhóm: • Lợi ích hoạt động: giảm chi phí, chu kỳ thời gian hoạt động, cải thiện năng suất, chất lượng cũng như dịch vụ khách hàng. • Lợi ích quản trị: ERP xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung, cung cấp các công cụ hỗ trợ phân tích dữ liệu và cho phép trích xuất các bản báo cáo đa dạng tạo điều kiện dễ dàng cho việc ra quyết định của nhà quản trị • Lợi ích chiến lược: tạo ra lợi thế cạnh tranh trên cơ sở công nghệ thông tin. • Lợi ích cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin: tạo điều kiện cho doanh nghiệp áp dụng công nghệ để tăng năng suất, giảm chi phí và tăng khả năng tiếp cận với các ứng dụng khác • Lợi ích doanh nghiệp: cải tiến quy trình làm việc từ đó tăng năng suất lao động, giảm thiểu chi phí quản lý.
Báo cáo ERP của Panorama Consulting Solutions năm 2018 đã thống kê được 16 lợi ích được các doanh nghiệp ghi nhận sau khi triển khai ERP. Có đến 80% các doanh nghiệp cho rằng sau khi triển khai ERP, các thông tin của doanh nghiệp luôn sẵn có và cập nhật. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Bên cạnh đó còn có những lợi ích khác như: mức độ tin cậy của dữ liệu được nâng cáo, các phòng ban có thể tương tác và phối hợp dễ dàng hơn… Biểu đồ 1.1: Thống kê về những lợi ích khi triển khai ERP (2018) Lợi ích khi triển khai ERP Dữ liệu luôn sẵn có và cập nhật 80% Nâng cao mức độ tin cậy của dữ liệu 55% Tăng cường tính tương tác giữa các phòng ban 46% Cải thiện năng suất và hiệu quả làm việc 44% Tối ưu thời gian chờ và mức tồn kho 44% Ra quyết định tốt hơn 43% Kiểm soát tính tuân thủ 38% Giảm chi phí vận hành, nhân sự 37% Giảm thiểu các công việc có tính chất lặp đi lăp lại 23% Chuẩn hóa việc vận hành doanh nghiệp 18% Cung cấp thông tin hỗ trợ cho việc ra quyết định 17% Cải tiến khả năng tương tác với nhà cung cấp 15% Giảm bớt chi phí duy trì bộ phận IT 14% Nâng tầm nhìn cho việc vận hành doanh nghiệp 14% Cải tiến khả năng tương tác với khách hàng 13% Cải tiến quy trình của doanh nghiệp 10% 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% Nguồn: Báo cáo ERP của Panorama Consulting Solutions năm 2018 1.4 Tình hình ứng dụng và triển khai ERP 1.1 Tổng quan Toàn cầu hóa kinh tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ cùng với sự bùng nổ và phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ đã đang và sẽ tiếp tục làm biến chuyển thế giới. Trong bối cảnh này, doanh nghiệp là đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp, để đứng vững trong một môi trường liên tục thay đổi và những cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt, con đường duy nhất là phải thích nghi để tồn tại và phát triển.
Do đó, việc nắm bắt và quản trị hiệu quả các nguồn lực đang là bài toán được quan tâm hơn bao giờ hết. Đáp ứng nhu cầu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 này, xu hướng triển khai các hệ thống quản lý tổng thể doanh nghiệp sẽ tiếp tục là xương sống của nhiều doanh nghiệp trong tương lai gần. Theo công ty tư vấn Modor Intelligence, thị trường ERP toàn cầu được định giá 36,49 tỷ USD vào năm 2018 và dự kiến sẽ đạt giá trị 60 tỷ USD vào năm 2024, với tốc độ CAGR là 8,66% trong giai đoạn dự báo (2019-2024).2 Các hãng phần mềm ERP phổ biến trên thế giới Hiện nay có rất nhiều nhà cung cấp phần mềm ERP lớn nhỏ khác nhau trên thế giới. Trong đó một nửa miếng bánh thị phần thuộc về 4 gã khổng lồ: SAP, Oracle, Microsoft và Infor.
Đây là những giải pháp ERP hàng đầu thế giới cung cấp giải pháp toàn diện phục vụ cho các doanh nghiệp ở nhiều lĩnh vực kinh doanh với quy mô khác nhau. SAP SAP là nhà cung cấp giải pháp ERP lớn nhất thế giới được thành lập từ năm 1972, trụ sở đặt tại Đức. Năm 2018, Forbes xếp hạng SAP là công ty công nghệ lớn thứ 12, cung cấp giải pháp cho khoảng 404.000 khách hàng trên 180 quốc gia, trong đó 80% là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Uớc tính có đến 77% tất cả các giao dịch kinh doanh trên thế giới có liên quan đến hệ thống SAP.
Công ty cung cấp các mô hình triển khai tại chỗ (on-prem), mô hình điện toán đám mây (on-cloud) và mô hình lai (hybrid), với định hướng lấy điện toán đám mây là hướng phát triển trọng tâm. Các sản phẩm ERP chính của SAP: SAP ERP, SAP Business One, SAP Business ByDesign, SAP Business All-in-One Oracle Oracle có trụ sở chính tại Mỹ, thành lập năm 1977. Oracle đã tiến hành hàng loạt thương vụ mua lại các công ty ERP khác trên thế giới: JD Edwards, PeopleSoft,… Các giải pháp ERP của Oracle được thừa hưởng tiện ích từ hệ sinh thái: Hyperion (quản lý hiệu suất), cùng với một mạng lưới đối tác và chuyên viên vấn trên toàn cầu, Siebel (CRM). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Sản phẩm ERP chủ yếu : Oracle Fusion Applications, PeopleSoft Enterprise, Oracle E- Business Suite, Oracle JD Edwards Microsoft Microsoft nổi tiến với hệ điều hành và phần mềm tin học văn phòng nhưng có riêng một giải pháp ERP với thương hiệu Microsoft Dynamics.
Khách hàng sử dụng ERP của Microsoft được thừa kế một hệ sinh thái tiện ích khổng lồ và quen thuộc như Office, Microsoft Dynamics CRM, Power BI, Share Point, … Năm 2008, Microsoft đã giới thiệu Microsoft Azure – nền tảng điện toán đám mây của mình.