Chương 1 Trong chương này, tác giả đã trình bày tổng quan về đề tài đang nghiên cứu thông qua lý do dẫn dắt để hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi đối tượng nghiên cứu, và phương pháp nghiên cứu tổng quát. Những nội dung này sẽ giúp tác giả có cái nhìn tổng quát về nội dung, quá trình hình thành đề tài, để từ đó tạo cơ sở cho việc tìm hiểu sâu về các cơ sở lý thuyết liên quan trong chương tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết về đầu tư và vốn đầu tư 2.1 Khái niệm đầu tư Theo Luật đầu tư (2005) thì quy định rằng: Đầu tư là tập hợp các hoạt động bỏ vốn và sử dụng vốn theo một chương trình đã được hoạch định trong một khoảng thời gian tương đối dài nhằm thu được lợi ích lớn hơn cho các nhà đầu tư, cho xã hội và cho cộng đồng. Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư.
Như vậy, theo khái niệm trên, đầu tư là hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng trưởng kinh tế nói chung và phát triển của doanh nghiệp nói riêng, là hoạt động kinh tế gắn với việc sử dụng vốn trong dài hạn, nhằm mục đích sinh lợi và chứa đựng yếu tố rủi ro. Tuy nhiên, “nếu hoạt động đầu tư nào cũng sinh lãi thì trong xã hội ai cũng muốn trở thành nhà đầu tư. Chính hai thuôc tính này đã sàng lọc các nhà đầu tư và thúc đẩy sản xuất-xã hội phát triển” (Phùng Xuân Nhạ, 2009). Nhà đầu tư tiến hành hoạt động đầu tư dưới nhiều hình thức: Thành lập cơ sở sản xuất mới hoặc mua lại các cơ sở sản xuất hiện có và trực tiếp quản lý các tài sản đó.
Hình thức này được gọi là đầu tư trực tiếp, thời gian đầu tư thường là trung và dài hạn. Trái lại, nếu nhà đầu tư bỏ vốn ra để mua các chứng chỉ có giá như cổ phiếu, trái phiếu,… nhằm hưởng lợi tức, mà không trực tiếp quản lý tài sản của mình thì được gọi là đầu tư gián tiếp, thời gian đầu tư thường là ngắn hạn (Phùng Xuân Nhạ, 2009).2 Vai trò của đầu tư Theo Vũ Cương và cộng sự (2002) thì đầu tư có các vai trò như sau: - Đầu tư vừa có tác động đến tổng cung vừa có tác động đến tổng cầu. - Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế. 7 - Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế.
- Đầu tư góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. - Đầu tư với việc tăng cường khả năng khoa học công nghệ của đất nước.3 Khái niệm vốn đầu tư Theo luật đầu tư được Quốc Hội khoá XI thông qua ngày 29/11/2005 thì “Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp”. Vốn đầu tư là toàn bộ giá trị của tất cả các yếu tố (tiền tệ, máy móc, thiết bị, nhà xưởng, kinh doanh, bằng phát minh sáng chế…) được bỏ vào đầu tư nhằm đạt được mục tiêu đã dự định. Đối với tất cả quốc gia, vốn là yếu tố không thể thiếu được để phát triển kinh tế.
Chủ thể kinh doanh nào cũng cần phải có lượng vốn đầu tư ban đầu để chi phí cho việc thuê đất đai, xây dựng nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị… Vốn đầu tư dùng để đổi mới công nghệ, xây dựng và nâng cấp nhà xưởng…nhằm mở rộng quy mô, phát triển sản xuất. Vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của một đơn vị kinh tế hay một quốc gia. Các loại vốn đang trong quá trình đầu tư xây dựng. được gọi là vốn đầu tư.
Vốn đầu tư là toàn bộ những chi tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một thời kỳ nhất định. Vốn đầu tư thường thực hiện qua các dự án đầu tư và một số chương trình mục tiêu quốc gia với mục đích chủ yếu là bổ sung tài sản cố định và tài sản lưu động.4 Vai trò của vốn đầu tư Vốn đầu tư giải quyết tình trạng đầu tư phát triển của nền kinh tế quốc dân. Vốn từ các dự án đầu tư sẽ mang lại nguồn thu ngân sách cho địa phương từ các khỏan về thuế, tiền thuê đất, phí kết cấu hạ tầng, lợi nhuận… Mặt khác, sản phẩm hàng hóa, dịch vụ sẽ phong phú và đa dạng, chất lượng cao, giá cả hợp lý, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của người dân. Tại các tỉnh tập trung nhiều 8 KCN có vốn đầu tư lớn đều tăng mạnh nguồn thu ngân sách qua các năm, chính điều đó sẽ giải quyết được tình trạng thiếu vốn cho đầu tư phát triển nền kinh tế quốc dân.
Tất cả các nước đang và kém phát triển do tích lũy nội bộ thấp, muốn phát triển kinh tế của quốc gia đều phải có chính sách thu hút, huy động vốn đầu tư trong và ngoài nước. Khi nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, thì nhu cầu về vốn đầu tư không ngừng tăng lên. Thực tế cho thấy, khi tăng trưởng kinh tế càng cao thường gắn với tỷ lệ đầu tư càng cao. Nhờ có vốn đầu tư nhà nước cũng như DN có điều kiện đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và đổi mới kỹ thuật trong điều kiện khoa học, kỹ thuật thế giới phát triển mạnh mẽ.
Để phá vỡ vòng luẩn quẩn đó, các nước đang phát triển phải tạo ra một bước đột phá một mắc xích của nó, để rồi phá vỡ mắc xích còn lại. Một trong những khâu của vòng luẩn quẩn của đó chính là vốn dành cho đầu tư phát triển, biện pháp hữu hiệu nhất có thể coi là bước đột phá để phá vỡ vòng luẩn quẩn là tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế; thu hút và huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển nền kinh tế, tạo ra tăng trưởng kinh tế làm cho thu nhập tăng lên. Vốn đầu tư góp phần tạo điều kiện để mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu. Nguồn vốn đầu tư càng lớn sẽ tạo điều kiện cho các dự án đầu tư sản xuất hàng công nghiệp có chất lượng cao.
Chính điều này giúp cho DN mở rộng được thị trường tiêu thụ. Chất lượng hàng hóa được nâng lên, sẽ tạo đà cho các DN không chỉ đáp ứng nhu cầu tại địa phương mà còn có sức cạnh tranh trên thương trường không chỉ trong nước mà cả nước ngoài. Từ đó kéo theo xuất khẩu hàng hóa cho các công ty, các quốc gia trên thế giới. Thúc đẩy xuất khẩu là yếu tố hết sức quan trọng của tăng trưởng kinh tế và cân bằng cán cân thương mại của mỗi nước cũng như của từng địa phương, thông qua xuất khẩu, lợi thế so sánh của từng địa phương sẽ được khai thác có hiệu quả hơn.
Vốn đầu tư góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công ngiệp hóa, hiện đại hóa. 9 KCN góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại. Khu công nghiệp được sử dụng như một công cụ để điều chỉnh cơ cấu kinh tế vùng, khai thác vùng có giá trị kinh tế cao đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các vùng có khó khăn hơn xây dựng được cơ sở công nghiệp của mình. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng ta đã nêu rõ: cần cải tạo các KCN hiện có về kết cấu hạ tầng và công nghệ sản xuất, xây dựng mới một số KCN phân bố trên các vùng.
KCN phát triển kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, những vùng đất sản xuất CN kém hiệu quả sẽ được chuyển sang xây dựng KCN để sản xuất CN có hiệu quả cao hơn nhiều. Sự phát triển này góp phần to lớn vào sự hình thành các khu đô thị mới với hàng loạt các ngành dịch vụ phát triển. Từ đó, cơ cấu GDP của nền kinh tế quốc dân sẽ có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng giá trị ngành CN và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp. Đây là xu hướng phù hợp với quá trình CNH, HĐH đất nước thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Một thực tế cho thấy hầu hết các dự án đầu tư chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực CN và dịch vụ. Chỉ có một số dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Chính vì vậy, ở nước ta vốn đầu tư phát triển là một trong những yếu tố góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đề ra. Trước đây, nền kinh tế nước ta chủ yếu dựa vào SX nông nghiệp, năng suất lao động thấp.
Giá trị thặng dư ít, nên đời sống của người lao động gặp khó khăn. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng trong công cuộc đổi mới nền kinh tế, đã chuyển đổi cơ cấu kinh tế nước ta từ một nước nông nghiệp là chủ yếu trở thành một nước công nghiệp phát triển theo hướng CNH, HĐH. Với cơ cấu ngành kinh tế là công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ, trong đó CN và xây dựng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Vốn đầu tư thúc đẩy đầu tư đổi mới thiết bị máy móc, công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh và hiện đại hóa doanh nghiệp 10 Nếu đứng trên góc độ của một DN, thì vốn đầu tư là điều kiện cực kỳ quan trọng và cần thiết giúp DN trong việc đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị, công nghệ SX.
Nhờ có vốn đầu tư mà DN có thể nghiên cứu SX hoặc mua được những máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ SX tiên tiến, hiện đại ở trong nước và trên thế giới. Từ đó, giúp DN có đủ điều kiện để dần dần từng bước hoàn thiện và hiện đại hóa DN. Trong nền kinh tế thị trường, chỉ những DN nào biết ứng dụng những tiến bộ của khoa học và công nghệ, kịp thời ứng dụng các thành tựu nghiên cứu khoa học mới, thì DN đó sẽ thành công trong kinh doanh. Mặt khác, nhờ có máy móc thiết bị, công nghệ SX hiện đại mà DN tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, đặc biệt là các chi phí gián tiếp và hạ giá thành sản phẩm.