Chương 1. Phát triển nông nghiệp bền vững - Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2. Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở Vĩnh Phúc Chương 3. Định hướng và giải pháp đẩy mạnh phát triển nông nghiệp bền vững ở Vĩnh Phúc.
9 Chƣơng 1 PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Phát triển nông nghiệp bền vững 1.1 Phát triển nông nghiệp Phát triển là một khái niệm dùng để chỉ sự vận động đi lên trong quá trình thay đổi số lƣợng và chất lƣợng của quá trình đó theo chiều hƣớng tiến bộ. Đó là dòng tiến hoá có sự thay đổi mạnh về chất trong nội sinh của một quá trình nhất định. Theo đó, thuật ngữ phát triển nông nghiệp (NN) đƣợc dùng nhiều trong đời sống kinh tế và xã hội. Phát triển nông nghiệp thể hiện quá trình thay đổi của nền nông nghiệp ở giai đoạn này so với giai đoạn trước đó và thường đạt ở mức độ cao hơn cả về lượng và về chất.
Nền nông nghiệp phát triển là một nền sản xuất vật chất không những có nhiều hơn về đầu ra (sản phẩm và dịch vụ) đa dạng hơn về chủng loại và phù hợp hơn về cơ cấu, thích ứng hơn về tổ chức và thể chế, thoả mãn tốt hơn nhu cầu của xã hội về nông nghiệp. Trƣớc hết, phát triển NN là một quá trình, không phải trong trạng thái tĩnh. Quá trình thay đổi của nền nông nghiệp chịu sự tác động của quy luật thị trƣờng, chính sách can thiệp vào nền nông nghiệp của Chính phủ, nhận thức và ứng xử của ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng về các sản phẩm và dịch vụ tạo ra trong lĩnh vực NN. Nền nông nghiệp phát triển là kết quả của quá trình phát triển nông nghiệp.
Một nền nông nghiệp phát triển đƣợc hiểu là nền nông nghiệp có các đặc điểm: Đa dạng về đầu ra; Phù hợp về cơ cấu; Thích ứng về tổ chức, thể chế, chính sách; Thoả mãn tốt nhu cầu xã hội.2 Phát triển nông nghiệp bền vững Phát triển nông nghiệp bền vững là nội dung trọng yếu của chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của nhiều quốc gia. Nó là tiền đề cho đảm bảo các mục tiêu phát triển KT-XH, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con ngƣời trong 1 khi tài nguyên nông nghiệp ngày càng khan hiếm. 1 Phát triển bền vững là quá trình phát triển trong đó có sự lồng ghép các quá trình sản xuất- kinh doanh với bảo tồn tài nguyên và làm tốt hơn về môi trƣờng: đảm bảo thoả mãn những nhu cầu hiện tại mà không phƣơng hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của tƣơng lai. Nhƣ vậy, có thể hiểu về phát triển bền vững, đó là: Thứ nhất, phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng đƣợc yêu cầu của hiện tại, nhƣng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau (Hội đồng thế giới về môi trƣờng và phát triển của Liên hợp quốc - WCED, 1987); Thứ hai, phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, bao gồm: phát triển kinh tế (đặc biệt là tăng trƣởng kinh tế), phát triển xã hội (đặc biệt là thực hiện tiến bộ xã hội, công bằng xã hội, giảm nghèo và giải quyết công ăn việc làm, công bằng về giới, hài hoà giữa các thế hệ) và bảo vệ môi trƣờng (đặc biệt là bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lƣợng môi trƣờng, quản lý và giảm thiểu thiệt hại của thiên tai, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên).
Từ quan niệm về phát triển nông nghiệp, phát triển bền vững, phát triển nông nghiệp bền vững đƣợc hiểu là: Phát triển nông nghiệp bền vững là quá trình quản lý và duy trì sự thay đổi về tổ chức, kỹ thuật và thể chế cho nông nghiệp phát triển nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người về nông phẩm và dịch vụ vừa đáp ứng nhu cầu của mai sau. Sự phát triển của nền nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản) sẽ đảm bảo không tổn hại đến môi trƣờng, không giảm cấp tài nguyên, phù hợp về kỹ thuật và công nghệ, có hiệu quả về kinh tế và đƣợc chấp nhận về phƣơng diện xã hội. Phát triển nông nghiệp bền vững là quá trình đảm bảo hài hoà ba nhóm mục tiêu KT-XH và môi trƣờng, thoả mãn nhu cầu về nông nghiệp hiện tại mà không tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của tƣơng lai. Nông nghiệp bền vững là kết quả của quá trình phát triển nông nghiệp bền vững.
Nền nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp phải đáp ứng đƣợc hai yêu cầu cơ bản: Đảm bảo đáp ứng cầu hiện tại về nông sản và các dịch vụ liên quan và 1 duy trì đƣợc tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ mai sau (bao gồm gìn giữ quỹ đất, nƣớc, 1 rừng, khí hậu và tính đa dạng sinh học. Nông nghiệp bền vững là phạm trù tổng hợp, vừa đảm bảo các yêu cầu về sinh thái, kỹ thuật, vừa thúc đẩy KT- XH phát triển.2 Đặc trưng của nông nghiệp bền vững Nền nông nghiệp phát triển bền vững có những đặc trƣng chủ yếu sau: Năng suất (Productivity): Trƣớc tiên phải là nền nông nghiệp có năng suất cao. Điều đó có nghĩa là trên một đơn vị nguồn lực dùng trong nông nghiệp, sẽ thu đƣợc nhiều hơn sản phẩm hay giá trị sản phẩm. Tuỳ theo, mức độ phát triển hàng hoá của nền nông nghiệp, mà chỉ tiêu hiện vật hay giá trị sẽ chiếm vị trí quan trọng.
Năng suất còn đƣợc hiểu không những bao gồm về lƣợng mà còn về chất của sản phẩm thu đƣợc trên đơn vị nguồn lực. Hiệu quả (Efficiency): Nền nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp đạt hiệu quả về sử dụng nguồn lực. Trên thực tế có thể đạt năng suất mà chƣa thật sự đạt hiệu quả. Cần tính toán đầy đủ các khoản chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp, cả chi phí kinh tế và chi phí cơ hội khi tiến hành sản xuất - kinh doanh nông nghiệp.
Cần tính đủ các lợi ích đo đếm đƣợc và cả các lợi ích không đo đếm đƣợc từ nông nghiệp. Nền nông nghiệp bền vững sẽ luôn đem lại hiệu quả cao. Ổn định (Stability): Nền nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp đạt đƣợc sự ổn định cả về tăng trƣởng và phát triển. Sự thay đổi về cơ cấu của nền nông nghiệp, hoàn thiện tổ chức và thể chế thị trƣờng cần sự ổn định.
Càng ổn định, nông nghiệp càng bền vững. Ổn định không có nghĩa là giữ nguyên trạng thái cũ mà vẫn có sự thay đổi theo xu hƣớng chung, thể hiện tính quy luật của sự phát triển. Công bằng (Equity): Nền nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp đạt đƣợc sự công bằng trong phân bố, quản lý, sử dụng tài nguyên nông nghiệp, hƣởng thụ lợi ích thu đƣợc từ nền nông nghiệp. Do vậy, vấn đề công bằng trong nền nông nghiệp bền vững bao gồm sự giảm bớt chênh lệch giữa nhóm giàu và nhóm nghèo trong dân cƣ, giữa các dân tộc thiểu số và đa số, giữa nam và nữ, giữa thế hệ hôm nay với thế hệ mai sau.3 Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp bền vững 1.1 Hệ thống chính trị ổn định Chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc 1 gia.
Tuy nhiên, phát huy vai trò của chính trị với kinh tế để vừa đảm bảo các mục 1 tiêu của chính trị, vừa phát triển đƣợc kinh tế thị trƣờng lại là vấn đề vô cùng phức tạp. Tính phức tạp thể hiện ở chỗ luôn có sự đòi hỏi chính trị phải đáp ứng các yêu cầu của sự vận động kinh tế khách quan trong khi kinh tế luôn cần có sự biến đổi, đồng thời chính trị lại chứa đựng nhiều yếu tố chủ quan. Mặt khác, trong khi chính trị coi hƣớng tới các mục tiêu lợi ích kinh tế nhất định là cái căn bản thì chính trị còn phải giải quyết nhiều mối quan hệ khác và giữa các mối quan hệ ấy lại có những mối qua hệ qua lại, ảnh hƣởng lẫn nhau, có tác động liên hoàn. Tác động của chính trị đến đời sống kinh tế, do đó, kéo theo sự vận động của tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Khi lựa chọn một quyết sách chính trị, thậm chí phải hy sinh lợi ích kinh tế để đạt đƣợc các mục tiêu chính trị, xã hội khác. Kinh tế là gốc của chính trị. Việc tăng quy mô và trình độ phát triển kinh tế ở góc độ nào đó còn là thể hiện của chính trị phát triển, là thƣớc đo tính ƣu việt của chính trị cũng nhƣ sự phù hợp của chính trị với kinh tế. Kinh tế xét đến cùng “là nhân tố quyết định nhất đối với sự thắng lợi của trật tự xã hội” [V.I Lênnin: Toàn tập, Nxb.
Vì vậy, ổn định chính trị, hệ thống chính trị cơ sở, thực hiện dân chủ, thông qua quy chế dân chủ cơ sở đã đảm bảo quyền làm chủ của nông dân và nâng cao vị thế chính trị của giai cấp nông dân. Những biến đổi KT-XH đó tạo nên bảo đảm quan trọng cho việc giữ vững ổn định chính trị, trật tự an ninh và an toàn xã hội.2 Hệ thống kinh tế phù hợp Hầu hết các nƣớc đang phát triển đều áp dụng hệ thống kinh tế hỗn hợp chủ yếu bao gồm hai khu vực: Khu vực kinh tế tƣ nhân và khu vực kinh tế nhà nƣớc. Kinh tế nhà nƣớc và kinh tế tƣ nhân luôn gắn bó chặt chẽ, mật thiết với nhau, tạo điều kiện để cùng tồn tại và phát triển. Tầm quan trọng tƣơng đối của các khu vực này phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và thể chế của mỗi nƣớc.
Trên thực tế, sự mở rộng của khu vực kinh tế tƣ nhân phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó vai trò của việc lựa chọn các quan điểm, mô hình, thể chế phát triển có một ý nghĩa quyết định. Nó còn phụ thuộc vào truyền thống kinh doanh, sự hỗ trợ của các lực lƣợng trong và ngoài nƣớc. Khu vực kinh tế nhà nƣớc là nơi cung cấp hàng hóa công cộng và một số hàng hóa cá nhân, đồng thời cung cấp việc làm. 1 Không 1 một nƣớc nào có thể đạt đƣợc sự tăng trƣởng một cách bền vững lại dựa chủ yếu trên cơ sở sản xuất hƣớng vào xuất khẩu và sử dụng nhiều lao động mà thiếu khu vực kinh tế tƣ nhân to lớn và năng động.