CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẬN TẢI BIỂN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỊCH VỤ CUNG ỨNG CÁC CÔNG TRÌNH BIỂN 1. Tổng quan về vận tải biển 1. Khái niệm vận tải biển Vận tải biển (VTB ) được có thể được xem là một trong những phương thức vận tải đầu tiên của con người. Với nguồn gốc khiêm tốn là những chiếc thuyền buồm trên sông và ven biển của Ai Cập vào khoảng năm 3.200 trước Công nguyên (TCN), VTB là sự hỗ trợ không thể thiếu cho thương mại toàn cầu.200 TCN, các con tàu của Ai Cập đã buôn bán đến tận Sumatra, đại diện cho một trong những tuyến hàng hải dài nhất thời bấy giờ.
Đến thế kỷ thứ 10, các thương nhân Trung Quốc thường xuyên lui tới Biển Đông và Ấn Độ Dương, thiết lập mạng lưới thương mại khu vực. Trong cùng thời kỳ, các tuyến thương mại hàng hải giữa Trung Đông và châu Á được thiết lập, chủ yếu dưới sự kiểm soát của các thương nhân Ả Rập. Vào đầu thế kỷ 15, Đô đốc Zheng He đã lãnh đạo một hạm đội lớn của Trung Quốc gồm hơn 300 tàu do thủy thủ đoàn 28.000 người điều khiển để tiến hành bảy cuộc thám hiểm lớn, một trong số đó đã đến bờ biển Đông Phi. Tuy nhiên, nỗ lực của Trung Quốc nhằm khẳng định sự thống trị trên biển trong khu vực chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.
Những cuộc thám hiểm như vậy không được phép tiếp tục chủ yếu vì Trung Quốc tự coi mình là một cường quốc lục địa với lợi ích hạn chế đối với thương mại hàng hải. Tuy nhiên, đối với các quốc gia khác, việc triển khai sức mạnh hàng hải trở thành lợi ích chiến lược có tầm quan trọng kinh tế sống còn. Các cường quốc thực dân châu Âu, chủ yếu là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Hà Lan và Pháp, là những nước đầu tiên thiết lập một mạng lưới thương mại hàng hải toàn cầu đáng tin cậy vào thế kỷ 16. Hầu hết các hoạt động vận chuyển hàng hải tập trung quanh Địa Trung Hải, phía bắc Ấn Độ Dương, Châu Á Thái Bình Dương và Bắc Đại Tây Dương, bao 6 gồm cả vùng Caribe.
Do đó, khả năng tiếp cận hàng hóa thương mại vẫn là động lực chính trong lịch sử và đương thời trong việc thiết lập mạng lưới hàng hải. VTB là xương sống của thương mại thế giới và toàn cầu hóa. 24 giờ một ngày và quanh năm, tàu vận chuyển hàng hóa đến mọi nơi trên thế giới. Vai trò này sẽ tiếp tục phát triển cùng với sự gia tăng dự kiến của thương mại thế giới trong những năm tới khi hàng triệu người được kỳ vọng sẽ thoát nghèo nhờ khả năng tiếp cận tốt hơn với các vật liệu, hàng hóa và sản phẩm cơ bản.
Do đó, thương mại thế giới và vận tải biển là nền tảng để duy trì tăng trưởng kinh tế và truyền bá sự thịnh vượng trên toàn thế giới, qua đó hoàn thành chức năng kinh tế cũng như xã hội quan trọng. Hơn nữa, VTB sẽ không thể thiếu trong một nền kinh tế toàn cầu bền vững trong tương lai vì đây là phương thức vận tải khối lượng lớn thân thiện với môi trường nhất, cả về hiệu quả năng lượng và ngăn ngừa ô nhiễm. Các khía cạnh môi trường, xã hội và kinh tế của VTB đều quan trọng như nhau và cần được công nhận đầy đủ trong bất kỳ chiến lược, chính sách, khuôn khổ pháp lý hoặc hành động nào. Ngành VTB cũng là một thành phần quan trọng trong hệ thống kinh tế của một quốc gia, vì nó đóng vai trò cơ bản trong việc xuất nhập khẩu tài nguyên và cung cấp cơ hội việc làm.
VTB có tầm quan trọng lớn đối với nền kinh tế toàn cầu, chiếm khoảng 80% thương mại toàn cầu, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế. Cả VTB và các hoạt động liên quan của nó đều có tác động tổng thể lớn đến nền kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhiều ngành công nghiệp. Trong khi VTB được coi là trụ cột của thương mại toàn cầu, rất nhiều ngành công nghiệp khác phụ thuộc rất nhiều vào nó, vì một loạt các nguồn lực được vận chuyển đến các trung tâm sản xuất. VTB là hoạt động vận tải có sử dụng kết cấu hạ tầng và phương tiện vận tải.
Cụ thể là việc sử dụng các vùng đất, vùng nước gắn với tuyến đường biển nối liền các quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc các khu vực trong một quốc gia. Cùng với đó là việc sử dụng tàu biển hay các thiết bị xếp dỡ. để phục vụ cho việc di chuyển hành khách, hàng hóa trên các tuyến biển. 7 Tóm lại, có thể hiểu VTB là phương thức vận tải mà qua đó, hàng hóa (hoặc con người) được vận chuyển qua các tuyến đường biển.
Trong một số trường hợp, vận tải biển có thể bao gồm các hoạt động trước và sau vận chuyển. Khía cạnh hệ thống của vận tải biển VTB liên quan quá trình vận chuyển vật chất hàng hóa từ nơi cung cấp đến nơi có nhu cầu tiêu thụ đối với một số loại hàng hóa, cùng với những hoạt động cần thiết bổ trợ cho việc vận chuyển đó. Hệ thống VTB bao gồm ba thành phần thiết yếu quan trọng đối với sự di chuyển của hàng hóa, đó là: • Cơ sở hạ tầng cố định như cảng hoặc điểm tập kết hàng hóa • Phương tiện vận chuyển như tàu, sà lan • Hệ thống tổ chức cần thiết để đảm bảo tàu và cơ sở hạ tầng cố định được sử dụng hiệu quả và hiệu quả Tuy nhiên, việc thực hiện các dịch vụ vận chuyển liên quan đến một số hoạt động thương mại, sự tồn tại của cơ sở hạ tầng phù hợp, thủ tục vận hành vận chuyển, hệ thống quản lý tổ chức như hoạch định nguồn lực doanh nghiệp hoặc hệ thống thông tin tích hợp tất cả các hoạt động và ứng dụng trong một công ty hoặc tổ chức vận chuyển. Hiệu quả của dịch vụ VTB được quyết định bởi tỷ lệ cung cầu trên thị trường vận tải biển, và quản lý VTB vận dụng cơ chế thị trường trong sự điều tiết quan hệ cung cầu.1 cho thấy năm yếu tố chính của VTB ảnh hưởng đến việc thực hiện các dịch vụ vận chuyển.
Các yếu tố quyết định nhu cầu VTB (Nguồn: Lun và cộng sự, 2010) 1. Các yếu tố và quy trình trong hệ thống vận tải biển Hệ thống VTB là một hệ thống phức tạp dựa trên sự tương tác và quản lý của các hệ thống con của nó - tàu, cảng và hàng hóa (Hình 1. Quy trình quản lý của hệ thống VTB tạo ra một bộ các thủ tục tác động đến hệ thống và các hệ thống con của nó nhằm thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu đã đề ra. Để thực hiện các mục tiêu của hệ thống VTB về mặt vận hành thì hệ thống thông qua luồng thông tin điều chỉnh chất lượng và sự di chuyển an toàn của tàu và hàng hóa qua cảng và các tuyến đường biển.
Mô hình VTB với các yếu tố chính (Nguồn: Suzana Šamija, 2011)) Các quy trình xảy ra trong hệ thống VTB dựa trên luồng thông tin liên tục và đồng thời tham chiếu đến cả việc kiểm soát và quản lý chúng nhằm đạt được hiệu suất tối ưu của các dịch vụ VTB. Bằng cách quản lý các quy trình trong hệ thống vận chuyển hàng hải, các hoạt động được phối hợp theo cách cung cấp chất lượng, hiệu quả, tốc độ, độ tin cậy và an ninh của các dịch vụ vận chuyển tại mọi thời điểm. Các quá trình liên quan đến nhau trong các yếu tố của hệ thống VTB có thể được chia thành nhiều chu kỳ, tương ứng với các giai đoạn của hành trình tàu từ cảng A đến cảng B. Các giai đoạn này như sau: Giai đoạn đầu tiên là lập kế hoạch cho chuyến đi và bao gồm các khía cạnh thương mại của việc quản lý tàu.
Các nội dung quan trọng của giai đoạn này là khoảng cách giữa các cảng, loại hàng hóa, giá cước vận tải hoặc tàu, giá nhiên liệu và cảng phí. Giai đoạn thứ hai là thực hiện hành trình, bao gồm việc điều hướng đến cảng nhận hàng, quá trình xếp hàng, điều hướng bằng đường biển đến cảng dỡ hàng và quá trình dỡ hàng. Ở giai đoạn này, hiệu quả quản lý quyết định kết quả cuối cùng của chuyến đi, bao hàm kiến thức tốt về tất cả các nhân tố liên quan ảnh hưởng đến việc thực hiện chuyến đi. Đó có thể là các yếu tố tại cảng như: tốc độ khai thác cảng, sự phát triển của cơ sở hạ tầng cảng, tình trạng tắc nghẽn cảng… yếu tố về hàng hóa hay 10 mức độ phức tạp và cách xử lý của một số loại hàng hóa trong quá trình vận chuyển đường biển.
Giai đoạn thứ ba là phân tích và liên quan đến quá trình nghiên cứu và phân tích các khía cạnh của chuyến đi. Các kết quả tài chính của chuyến đi được phân tích, các lỗi được xác định, các tác động tích cực và tiêu cực của một hoạt động điều hướng được tổng kết ở giai đoạn này. Giai đoạn trên là cần thiết cho các quyết định trong tương lai của người quản lý, cũng như để thực hiện các hoạt động phòng ngừa và khắc phục nhằm tăng cường và cải thiện quy trình tổng thể của VTB. Quản lý dịch vụ cung ứng các công trình biển 1.
Một số khái niệm 1. Dịch vụ Quan điểm liên quan đến khái niệm dịch vụ có sự khác biệt giữa các nhà khoa học khác nhau. Theo đó Hill (1977) tuyên bố rằng một dịch vụ là sự thay đổi về tình trạng của một đơn vị hoặc một người, hoặc của một hàng hóa thuộc một đơn vị kinh tế nào đó, được tạo ra do hoạt động của một số đơn vị kinh tế khác, với thỏa thuận của cá nhân hoặc đơn vị kinh tế cũ. Tuyên bố này ngụ ý mối quan hệ giữa một số chủ thể, do đó phản ánh tầm quan trọng của cấu trúc thể chế sản xuất.
Dựa trên cái nhìn sâu sắc này, Gadrey (2000) đã rút ra mối quan hệ tam giác giữa sự thay đổi trạng thái của thực tế C, thuộc sở hữu của người tiêu dùng B và cuối cùng bị ảnh hưởng bởi nhà cung cấp dịch vụ A. Chắc chắn, phải có là yêu cầu trước của người tiêu dùng B đối với nhà cung cấp dịch vụ A, điều này đôi khi còn đòi hỏi sự cộng tác với người tiêu dùng B và thường dẫn đến việc chuyển giao quyền sở hữu tạm thời (Araujo và Spring, 2006; Spring và Mason, 2007).