CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về làng nghề ở Việt Nam 1. Khái niệm và tiêu chí làng nghề Theo quy định tại Điều 3, Thông tư 46/2011/TT-BTNMT ngày 26/12/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về bảo vệ môi trường làng nghề thì làng nghề được định nghĩa là một (01) hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, phường, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất tiểu thủ công nghiệp sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. Xét về mặt định tính: làng nghề ở nông thôn nước ta được hình thành và phát triển do yêu cầu của phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và chịu sự chi phối của nông nghiệp và nông thôn.
Làng nghề gắn liền với những đặc trưng của nền văn hóa lúa nước và nền kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ tự cung tự cấp. Xét về mặt định lượng: làng nghề là những làng mà ở đó có số người chuyên làm nghề thủ công và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đó chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng dân số của làng. Tiêu chí để xem xét một cách cụ thể đối với một làng nghề điển hình là: Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh ngành nghề. Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận.
Chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước và các quy định của địa phương trong hoạt động sản xuất kinh doanh của làng nghề [3]. Đặc điểm chung của làng nghề Tại mỗi làng nghề tuy bao giờ cũng có sự khác nhau về quy mô sản xuất, quy trình công nghệ, tính chất sản phẩm nhưng đều có chung một số đặc điểm sau [1]. - Lực lượng lao động trong làng nghề đa số là người dân sống trong làng. Các ngành nghề phi nông nghiệp trong làng sẽ tạo ra sản phẩm giúp cho người dân tăng thu nhập trong lúc nông nhàn.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Hộ gia đình là đơn vị cơ bản của sản xuất với nguồn nhân lực từ thành viên trong gia đình và cơ sở hạ tầng tự có. Nhờ vào nhân lực gia đình đã tạo cho các hộ gia đình khả năng thu nhập không phân biệt lứa tuổi và giới tính vì nó đáp ứng nhu cầu chung của các thành viên trong gia đình. Do đó, nó có thể huy động mọi người trong gia đình tham gia tích cực vào việc tăng sản phẩm sản xuất của gia đình. - Cơ sở sản xuất dịch vụ tại làng xã là nơi có nhiểu hộ gia đình cùng tham gia.
Điều này tạo nên tính chất riêng biệt của làng nghề, dẫn đến xu thế độc quyền những nghề nghiệp, sản phẩm. - Tính chuyên môn hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau trong các làng nghề rất rõ rệt. Một số trường hợp, sự phân chia lao động trong làng nghề phụ thuộc vào từng khâu trong quy trình sản xuất. Nghề càng phức tạp, càng có nhiều công đoạn sản xuất thì tính chuyên môn hóa càng cao.
Sự phân chia này không chỉ trong một làng mà còn có thể mở rộng trong nhiều làng. - Phần lớn kỹ thuật - công nghệ của làng nghề còn lạc hậu, chủ yếu vẫn sử dụng các thiết bị thủ công, bán cơ khí hoặc đã đã được cải tiến một phần, đa số mua lại từ các cơ sở công nghiệp quốc doanh, các thiết bị này đã cũ, không đồng bộ, không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật và điều kiện làm việc cho người lao động. Công nghệ sản xuất đơn giản (đôi khi còn lạc hậu), cần nhiều sức lao động (với kỹ thuật cũ mang lại lợi nhuận thấp so với sức lao động đã bỏ ra). - Biết tận dụng nguyên vật liệu và nhân lực thông qua kỹ năng lao động và sự khéo léo để tạo thu nhập trong điều kiện thiếu vốn.
Một số làng nghề chính ở Việt Nam [8]. - Làng nghề chế biến lương thực phẩm: đi kèm với chăn nuôi có số lượng làng nghề lớn (chiếm 20% số lượng làng nghề) phân bố đều trên cả nước, phần nhiều sử dụng lao động nông nghiệp, không yêu cầu trình độ cao, hình thức sản xuất thủ công, ít có thay đổi về quy trình sản xuất. Nước ta có nhiều làng nghề thủ công truyền thống như nấu rượu, làm bánh đa nem, đậu phụ., với các nguyên liệu chính là gạo, ngô, khoai, sắn, đậu., các nghề này thường gắn với hoạt động chăn nuôi ở quy mô gia đình. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Làng nghề thêu, dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da: Là loại hình làng nghề đã có từ lâu đời, nhiều sản phẩm đã gắn liền với truyền thống lịch sử, văn hoá đậm nét địa phương.
Những sản phẩm như lụa, tơ tằm, thổ cẩm, thêu ren, dệt may., không chỉ là những sản phẩm hàng hoá có giá trị mà còn là những tác phẩm nghệ thuật được đánh giá cao. Tại các làng nghề nhóm này, lao động nghề thường là lao động chính (chiếm tỷ lệ cao hơn lao động nông nghiệp). - Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá có từ lâu đời: tập trung ở các vùng có sẵn nguyên liệu xây dựng. Lao động loại làng nghề này chủ yếu là thủ công, quy trình công nghệ thô sơ, tỷ lệ cơ khí hoá thấp.
Khi nhu cầu về xây dựng nhà cửa, công trình tăng, hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng phát triển mạnh đặc biệt là các vùng núi đá vôi. - Làng nghề tái chế phế liệu: chủ yếu mới hình thành, nên số lượng ít nhưng lại được phát triển nhanh về loại hình tái chế (chất thải kim loại, giấy nhựa, vải đã qua sử dụng). Ngoài ra, các làng nghề cơ khí, chế tạo và đúc kim loại phế liệu sắt vụn, cũng là loại hình làng nghề. - Làng nghề thủ công mỹ nghệ: bao gồm các làng nghề gốm, sành sứ, thuỷ tinh mỹ nghệ, chạm khắc đá, chạm mạ vàng bạc, sản xuất mây tre đan, đồ gỗ mỹ nghệ, sơn mài, làm nón, dệt chiếu, thêu ren.
Đây là nhóm làng nghề chiếm tỷ lệ lớn về số lượng (khoảng 40% tổng số làng nghề) có truyền thống lâu đời, sản phẩm có giá trị cao, đậm nét văn hoá dân tộc, có tính địa phương cao. Quy trình sản xuất của các làng nghề này gần như không thay đổi, lao động thủ công nhưng đòi hỏi tay nghề cao, đòi hỏi chuyên môn hoá và có tính chuẩn trong sáng tạo. - Các nhóm ngành khác: bao gồm các làng nghề chế tạo công cụ thô sơ như cầy bừa, quốc xẻng, liềm hái, đóng thuyền, làm quạt giấy, đan vó đan lưới, làm lưỡi câu ., những làng nghề nhóm này có từ lâu đời, sản phẩm phục vụ trực tiếp cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của địa phương. Lao động chủ yếu thủ công, thu hút nhiều lao động, sản phẩm ít có cải tiến thay đổi.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại làng nghề Việt Nam theo nghành nghề sản xuất[1]. Vai trò của làng nghề trong sự phát triển kinh tế - xã hội * Làng nghề với sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn. Điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một yếu tố cực kỳ quan trọng hỗ trợ phát triển các làng nghề.
Khả năng tiếp cận thông tin, điện, nước sạch, giao thông và các yếu tố khác về cơ sở vật chất là rất cần thiết cho sự phát triển của các làng nghề. Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt sẽ góp phần mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo ở nước ta thông qua việc phát triển các ngành nghề tại các làng nghề. Ngược lại, sự phát triển kinh tế của các làng nghề cũng góp phần đổi mới bộ mặt nông thôn, cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Hạ tầng cơ sở ở những nơi tập trung nhiều làng nghề như khu vực đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ và Đông Nam Bộ nhìn chung phát triển khá tốt do các làng nghề phần lớn được hình thành, phát triển ở những nơi tiếp cận thuận lợi mạng lưới đường quốc lộ, tỉnh lộ, cùng sự hỗ trợ của các chính sách từ chính quyền địa phương nhằm thúc đẩy mạnh mẽ phát triển làng nghề.
Khu vực miền núi, cũng có một số làng nghề phát triển, tuy nhiên điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật vẫn không được chú trọng đầu tư do phần lớn làng nghề ở đây không nhằm mục tiêu phục vụ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thị trường mà chủ yếu sản phẩm chỉ phục vụ đời sống nhân dân khu vực lân cận. * Làng nghề và xoá đói giảm nghèo ở nông thôn Tại các làng nghề, đại bộ phận dân cư làm nghề thủ công nhưng vẫn tham gia sản xuất nông nghiệp ở một mức độ nhất định. Tại nhiều làng nghề, trong cơ cấu kinh tế địa phương, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đạt 60 - 80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20 - 40%. Trong những năm gần đây, số hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn đang ngày một tăng lên với tốc độ bình quân từ 8,8 - 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu từ các sản phẩm làng nghề không ngừng gia tăng.
Chính vì vậy, có thể thấy, làng nghề đóng vai trò rất quan trọng, trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động ở khu vực nông thôn. Bên cạnh việc tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động ở khu vực nông thôn còn tạo thêm việc làm cho lao động phụ như người già, trẻ em, người khuyết tật,. Mức thu nhập của người lao động ngành nghề cao gấp 3 đến 4 lần so với thu nhập của người lao động thuần nông. Điều này cũng khiến số hộ gia đình chuyển từ sản xuất thuần nông sang sản xuất thủ công nghiệp và chuyên làm nghề ngày càng tăng nhanh.
* Làng nghề truyền thống và hoạt động phát triển du lịch Lợi ích của việc phát triển làng nghề không chỉ là ở kinh tế, giải quyết việc làm cho lao động địa phương mà còn góp phần bảo tồn được giá trị văn hoá lâu dài. Với những lợi thế như cảnh quan thiên nhiên, vị trí địa lý, nét văn hoá đặc sắc, các làng nghề còn có sức hút đặc biệt bởi mỗi làng lại gắn với một vùng văn hoá hay một hệ thống di tích lịch sử.