Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG CÔNG LẬP 1. Quản lý tài chính Trường ĐH, CĐ 1. Kinh nghiệm một số nước trên thế giới Nhận thức rõ vai trò của giáo dục đào tạo, chính phủ các nước luôn quan tâm và tăng cường đầu tư cho giáo dục đào tạo, trong đó, có giáo dục ĐH, CĐ. Tuy nhiên trước thực tế thiếu hụt các nguồn lực để phát triển giáo dục đại học, đặc biệt là nguồn lực tài chính, việc huy động các nguồn tài chính ngoài NSNN (thể hiện ở các hình thức: Một là, đóng góp học phí của các bậc cha, mẹ sinh viên; Hai là, phát triển khu vực giáo dục đại học tư nhân; Ba là, các Trường đại học tự tạo nguồn vốn thông qua các hoạt động dịch vụ đào tạo và NCKH; Bốn là, các nguồn hỗ trợ, tài trợ tư nhân khác), để đầu tư cho giáo dục đại học là biện pháp phổ biến ở các nước trên thế giới, từ nước phát triển cho đến những nước chậm phát triển nhằm góp phần giảm gánh nặng cho NSNN và giải quyết bài toán về nhu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay.
* Kinh nghiệm của Mỹ Từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước trở lại đây, Mỹ rất chú trọng đầu tư cho giáo dục, nhất là giáo dục đại học. Theo đó, ngân sách đầu tư cho giáo dục của Mỹ rất cao: năm 1985 khoảng 300 tỉ USD, năm 1989 là 353 tỉ USD, đến năm 1999 đạt 653 tỉ USD, kéo theo đó là sự gia tăng về số lượng tuyệt đối chi ngân sách cho giáo dục đại học. Hiện nay, tỷ lệ đầu tư cho giáo dục của Mỹ chiếm khoảng 7% GDP, toàn bộ chi tiêu cho giáo dục đào tạo hằng năm xấp xỉ 1.000 tỉ USD, trong đó giáo dục đại học chiếm khoảng hơn 700 tỉ USD. 7 Ở nước Mỹ, thu học phí của sinh viên được xem là một giải pháp chủ yếu nhằm chia sẻ chi phí giáo dục đại học.
Học phí đại học được tính toán sao cho có thể bù đắp đáng kể các chi phí hoạt động của Nhà trường và các chi phí do lạm phát gây ra. Vì vậy, mức học phí ở các Trường đại học luôn thay đổi theo xu hướng tăng lên. Mỹ hiện có khoảng 3.900 Trường đại học, trong đó, có khoảng trên 1.800 Trường tư do những người không có chuyên môn về học thuật điều hành và trên 1.800 Trường công lập. Hệ thống các Trường tư thục có tiêu chuẩn cao chủ yếu tuyển chọn sinh viên thuộc tầng lớp thượng lưu trong xã hội, đồng thời, cũng có loại Trường dành cho sinh viên nghèo.
Có một số Trường đại học tư thục nổi tiếng đã đào tạo ra nhiều nhân tài kiệt xuất cho nước Mỹ và thế giới như Harvard, Yale, Columbia, Stanford. Tuy nhiên, ở các Trường này, sinh viên phải đóng kinh phí mỗi năm cũng rất cao (khoảng 20.000USD/năm trở lên). Việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao được các công ty Mỹ rất chú trọng. Mỗi năm, các công ty ở Mỹ đóng góp khoảng trên 150 tỉ USD cho giáo dục đại học.
Các Trường đại học Mỹ chịu tác động sâu sắc của thị Trường và có mối quan hệ đa dạng với thị Trường thông qua các doanh nghiệp. Họ nhận được sự đầu tư dồi dào của các doanh nghiệp qua cạnh tranh các hợp đồng NCKH, dịch vụ tư vấn, đào tạo nhân lực chất lượng cao (Nguồn: Tạp chí Cộng Sản 9- 2011). Trong cơ chế quản lý tài chính tập trung, với việc phân bổ ngân sách theo các tiêu chuẩn định sẵn, Nhà trường nhận các nguồn tài trợ về: tài liệu học tập, giảng viên, phương tiện đi lại cùng một ít kinh phí khác, đã làm hạn chế khả năng sáng tạo của đội ngũ, ngăn cản sự đổi mới của Nhà trường, có hại cho việc thiết kế chương trình và khả năng tham gia của các nhà giáo dục… Vì vậy các nhà kinh tế học Hoa Kỳ cần phải thực hiện cải cách giáo 8 dục một cách cơ bản với hai chiến lược: Chiến lược quản lý tài chính và chiến lược hiệu quả chi phí và chất lượng. Các nghiên cứu trong lĩnh vực Trường tư cũng cho thấy rằng phí tập trung hóa trong 04 lĩnh vực: Quyền lực, thông tin, tri thức và kinh phí sẽ làm tăng hiệu quả và chất lượng đào tạo trong Nhà trường.
Nhà trường có quyền quyết định phân bổ các nguồn tài chính một cách hợp lý và được quyền tự chủ về tài chính. Khi trao quyền tự chủ về tài chính cho các Trường đại học công lập, các nhà quản lý địa phương tiếp tục kiểm soát các chi phí của Nhà trường như: nhà cửa, lương của giảng viên, các khoản mua sắm ban đầu… các nhà quản lý địa phương đưa ra danh mục các trang thiết bị chất lượng và buộc Nhà trường phải tuân theo. Vì vậy, các chuyên gia quản lý tài chính địa phương lại tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với Nhà trường trong quá trình tự chủ về tài chính. Điều đó dẫn đến một số Trường có thể thuê giảng viên ít kinh nghiệm hoặc giảng viên làm việc thêm giờ để giảm giá thành phải trả cho đội ngũ, dẫn đến chất lượng và hiệu quả không cao.
Để thực hiện tốt tự chủ về tài chính trong các Trường Đại học công lập đòi hỏi Nhà trường cần có các quyền sau: - Quản lý chuyên môn: Nhà trường phải được tự tuyển chọn đội ngũ giảng viên, quyết định thời gian làm việc của các tổ chuyên môn, phân công lao động hợp lý. - Quản lý các khoản chi tiêu cho giảng viên và các phương tiện sử dụng trong Nhà trường. - Kiểm soát các nguồn cung cấp: chủ động tìm người cung cấp các dịch vụ và các thiết bị khi họ cần. Cho phép Nhà trường được chuyển các khoản tiền chưa chi tiêu sang các năm học sau.
9 Việc phân bổ ngân sách giáo dục được thực hiện theo các phương thức: - Phân bổ ngân sách dựa trên số lượng học sinh, sinh viên, chính quyền Liên bang định mức chi phí cơ bản và cung cấp kinh phí cho Nhà trường. - Trợ cấp kinh phí cho các học sinh, sinh viên nghèo với định mức hỗ trợ tối thiểu là 1. - Các Bang cần điều chỉnh phân bổ kinh phí phù hợp với các Trường, vùng, miền… * Kinh nghiệm của Trung Quốc NSNN là thành phần chính trong các nguồn vốn cho giáo dục đại học ở Trung Quốc, điều đó được ghi rõ trong Điều 60, Luật Giáo dục đại học của nước này. Từ năm 1994, thực hiện yêu cầu “3 tăng trưởng”, có nghĩa là “mức tăng NSNN cho giáo dục phải cao hơn mức tăng thu nhập ngân sách thường xuyên để từng bước tăng chi phí giáo dục tính bình quân theo đầu học sinh, bảo đảm tăng lương giáo viên và tăng chi phí dùng chung tính theo đầu học sinh”, từ đó đến nay, ngân sách đầu tư cho giáo dục của Trung Quốc không ngừng tăng lên.
Tuy nhiên, sức ép về nhu cầu mở rộng quy mô nâng cao chất lượng giáo dục đại học cộng với nhu cầu đầu tư cho các lĩnh vực khác đã buộc Chính phủ Trung Quốc phải giảm tỷ lệ đầu tư từ NSNN cho giáo dục đại học và chỉ tăng lượng đầu tư tuyệt đối. Hiện nay, mức chi cho giáo dục của Trung Quốc chiếm khoảng 3,28% GDP. Trước năm 1989, Nhà Nước bao cấp hoàn toàn kinh phí cho giáo dục đại học. Từ năm 1989 trở lại đây, Chính phủ nước này đã thực hiện chế độ thu học phí đối với giáo dục đại học trong các Trường công lập, ngay cả sinh viên được học bổng theo kế hoạch tuyển sinh của Nhà Nước cũng phải đóng học phí từ 100 đến 300 nhân dân tệ một năm học.
Năm 1995, Trung Quốc chính thức quy định mức thu học phí cao nhất của các Trường đại học là 1.200 nhân 10 dân tệ (Trường hợp cụ thể có thể tăng thêm 20%)…(Nguồn: Tạp chí Cộng Sản 9- 2011). Trong những năm gần đây giáo dục Đại học ở Trung Quốc phát triển nhanh chóng, Nhà Nước Trung Quốc đã thực hiện những cải cách nhằm thúc đẩy giáo dục Đại học theo kịp sự phát triển kinh tế và đáp ứng được nhu cầu Đại học của các đối tượng trong xã hội. Việc cải cách quản lý cơ chế tài chính giáo dục Đại học của Trung Quốc được thực hiện theo các hướng sau: - Chuyển giao phần lớn các Trường Đại học cho các Tỉnh, thành phố quản lý - Nới rộng quyền quản lý các Trường ĐH, CĐ cho địa phương - Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng - Cải cách thể chế đầu tư, xây dựng, phát triển các Trường ngoài công lập - Cải cách thể chế giáo dục, thực hiện xã hội hoá giáo dục Đại học * Kinh nghiệm của Nhật bản Giáo dục Nhật Bản thực sự được coi trọng, trở thành quốc sách hàng đầu và đóng vai trò chủ chốt trong sự phát triển xã hội. Hệ thống giáo dục của Nhật Bản được gọi là hệ thống 6-3- 3-4, bao gồm 6 năm tiểu học, 3 năm trung học cơ sở, 3 năm trung học và 4 năm đại học.
Để đáp ứng nhu cầu học ở bậc đại học ngày càng tăng nhanh, kể từ những năm 50 (thế kỷ XX), Nhật Bản đã hình thành đại học dân lập. Tuy nhiên từ những năm 1970 trở lại đây, Nhật Bản đã có những chính sách cụ thể để hạn chế sự cạnh tranh hỗn loạn của các loại hình dân lập này, bảo đảm chất lượng của sinh viên đại học khi ra Trường. Hệ thống giáo dục của Nhật có tính ưu việt rõ rệt, thể hiện qua việc tăng cường nâng cao dân trí, tạo nên lực lượng lao động tay nghề cao, được trả lương hậu. 11 Mặc dù vậy, hệ thống giáo dục Nhật Bản đã bộc lộ sự quá tải và cứng nhắc.
Nhật Bản dự kiến sẽ áp dụng một chính sách mới để cải cách nền giáo dục, với những chủ trương sau: + Kiên trì đầu tư cho giáo dục và đầu tư đúng mức, thực hiện giáo dục cưỡng bức 9 năm đầu miễn phí. Sau đó đưa khoảng 94% lên trung học. Mức đầu tư kinh phí ở Nhật cho giáo dục hàng năm rất cao, năm 1989 chiếm 4,75% tổng thu nhập quốc dân và tương đương với 16,5% NSNN. + Sớm đưa công nghệ vào học vấn phổ thông nhằm giúp học sinh sớm tiếp cận với công nghệ tiên tiến và có thể theo kịp với sự phát triển của xã hội.
Có như vậy mới tạo ra được một lực lượng lao động trong tương lai giỏi hơn. + Quản lý giáo dục bằng luật. Nhật Bản đưa ra hàng loạt đạo luật vào trong quản lý giáo dục.