Chương I Luật Doanh nghiệp năm 2020: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Xét theo quan điểm chức năng, M.Francois Peroux (trích dẫn trong Nguyễn Thị Hồng Lam, 2014, 12) cho rằng doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy. Còn theo quan điểm phát triển, D.A Caillat (trích dẫn trong Nguyễn Thị Hồng Lam, 2014, 12) lại định nghĩa doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được.
Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau về doanh nghiệp, ở mỗi cách tiếp cận lại có những khái quát riêng tuy nhiên doanh nghiệp có những đặc điểm cơ bản như: Có hoạt động kinh doanh và cung ứng dịch vụ thường xuyên, có tính hợp pháp và có tổ chức. Trên thực tế, hầu hết các doanh nghiệp khi thành lập đều hướng đến mục tiêu chung là SXKD để kiếm lời và tối đa hóa lợi nhuận do vậy doanh nghiệp cũng được xem như một tổ chức vị lợi. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số loại hình doanh nghiệp được tạo ra nhằm mục đích phục vụ xã hội. Cũng theo Luật doanh nghiệp năm 2020, dựa vào hình thức tổ chức pháp lý của doanh nghiệp, doanh nghiệp được chia thành 4 loại hình là: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh và Công ty cổ phần.
Khái quát về tài chính doanh nghiệp Lê Thị Xuân (2015, 6-7) đã đề cập tài chính doanh nghiệp có bản chất là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh luôn gắn liền với quá trình tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ trong hoạt động kinh doanh. Các mối quan hệ kinh tế gắn liền với việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp hợp thành các quan hệ tài chính. Các hoạt động gắn liền với việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền hệ thuộc hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Các quan hệ kinh tế bao gồm: Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với Nhà nước: Nhà nước thực hiện cấp vốn tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động trong khi đó doanh nghiệp phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước như đóng các khoản thuế, phí và lệ phí.
Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác: đa dạng hóa các loại doanh nghiệp tạo ra mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác, các tổ chức tài chính, khách hàng,. quan hệ này được thể hiện thông qua các hoạt động mua bán các loại hàng hóa, vật tư, tài sản, dịch vụ, hoạt động vay và cho vay vốn và các hoạt động đầu tư khác. Quan hệ giữa doanh nghiệp và chủ sở hữu: quan hệ này được thể hiện qua việc sử dụng nguồn vốn chủ, phân phối và sử dụng lợi nhuận sau thuế, phân chia lợi tức cho các cổ đông. Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: đó là mối quan hệ giữa các bộ phận, các phòng ban chức năng trong doanh nghiệp, giữa người thuê lao động và người lao động.
Từ những khái quát trên ta thấy rõ những vai trò nổi bật của tài chính doanh nghiệp: TCDN được xem như nền tảng của sự phát triển của doanh nghiệp. Việc phát triển hay thu hẹp các nguồn lực tài chính tác động trực tiếp đến sự phát triển hay suy thoái HĐKD của doanh nghiệp. Do vậy, tài chính doanh nghiệp có một số vai trò sau: 6 Tạo lập và tài trợ nguồn tài chính cho hoạt động SXKD. Không một doanh nghiệp nào có thể hoạt động nếu thiếu đi nguồn vốn, do vậy vốn là yếu tố cơ bản cho sự phát triển của doanh nghiệp.
Việc huy động và phân phối nguồn vốn một cách có hiệu quả để kịp thời đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp trở thành nhiệm vụ quan trọng. Bên cạnh đó TCDN còn đóng vai trò như một đòn bẩy tài chính điều tiết HĐKD. Việc sử dụng đòn bẩy tài chính hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí sử dụng vốn góp phần tăng lợi nhuận,. Tăng cường hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính.
Việc sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả được xem là điều kiện cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay. TCDN có vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn các phương án sử dụng vốn tối ưu, giúp doanh nghiệp huy động vốn có hiệu quả và phân bổ vốn hợp lý. Giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua các BCTC, các nhà quản trị có thể dễ dàng kiểm soát thực trạng kinh doanh kịp thời.
Từ đó, các nhà quản trị có thể có những đánh giá chính xác, phát hiện những tồn tại để từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh đúng đắn nhằm đạt được những mục tiêu đã định. Khái quát về năng lực tài chính của doanh nghiệp Theo Phạm Thị Vân Anh (2012, 6) năng lực tài chính của doanh nghiệp là khả năng đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Điều này thể hiện qua việc đảm bảo vốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, phân bổ và sử dụng các nguồn lực này một cách hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận và giá trị doanh nghiệp. Như vậy, năng lực tài chính của doanh nghiệp là nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, là khả năng tạo tiền, tổ chức lưu chuyển tiền tệ một cách hợp lý, đảm bảo KNTT thể hiện qua quy mô vốn, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời… để đảm bảo và duy trì hoạt động kinh doanh diễn ra bình thường.
7 Do vậy, năng lực tài chính bao gồm 2 nội hàm là khả năng huy động vốn nhằm đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng đảm bảo an toàn tài chính doanh nghiệp. Các tiêu chí đánh giá năng lực tài chính doanh nghiệp Phân tính và đánh giá năng lực tài chính doanh nghiệp là một trong số những đề tài phổ biến và được rất nhiều các tác giả nghiên cứu nhằm giúp doanh nghiệp cải thiện năng lực của mình. Mỗi tác giả sử dụng những bộ chỉ số nhằm đánh giá năng lực tài chính doanh nghiệp riêng. Tác giả Phạm Thị Minh Mẫn (2018) đánh giá năng lực tài chính qua 2 tiêu chí là định tính và định lượng.
Trong tiêu chí định tính, tác giả xem xét các khía cạnh như chính sách tài chính, khả năng huy động nguồn lực tài chính và khả năng mở rộng quy mô kinh doanh. Trong tiêu chí định lượng, tác giả lại xem xét các chỉ tiêu là: quy mô và cơ cấu vốn của doanh nghiệp, năng lực hoạt động của tài sản, KNTT và khả năng sinh lời. Tác giả Phạm Thu Hương (2020) xem xét thêm về chỉ tiêu tình hình đảm bảo vốn cho HĐKD. Bên cạnh đó có một số các chỉ tiêu khác để đánh giá về năng lực tài chính doanh nghiệp như chỉ số giá, tỷ số dòng tiền… Tuy nhiên không phải doanh nghiệp vào cũng tham gia vào thị trường chứng khoán và phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh mà các doanh nghiệp lại có sự lưu chuyển tiền tệ khác nhau.
Vì vậy, để phân tính về tình hình tài chính doanh nghiệp, Lê Thị Xuân (2016, 170-198) đã đề cập về phân tích các chỉ số tài chính, trong có tác giả đã đưa ra 4 nhóm tỷ số sau đây. Tỷ số phản ánh cơ cấu tài chính Phân tích cơ cấu tài chính của doanh nghiệp giúp các nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá được mức độ rủi ro tài chính mà doanh nghiệp phải gánh chịu. Đó là việc xem xét tỷ trọng của vốn chủ sở hữu và nợ phải trả trong tổng nguồn vốn. Nhìn chung, tỷ số nợ cao thường phản ánh mức độ rủi ro của doanh nghiệp.
Với mỗi doanh nghiệp, việc xây dựng và xác định cơ cấu vốn phù hợp là vô cùng quan trọng. Tỷ số nợ Tỷ số nợ được đo lường bằng tỷ số giữa tổng số nợ phải trả với tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. 8 Tỷ số nợ phản ánh trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn từ bên ngoài chiếm bao nhiêu phần trăm. Thông thường, một doanh nghiệp có tỷ số nợ thấp được đánh giá là ít phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài trong hoạt động kinh doanh và ngược lại.
Tuy nhiên không phải cứ duy trì một tỷ số nợ thấp là xu hướng tốt do trong nhiều trường hợp việc sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu nhiều sẽ làm tăng chi phí sử dụng vốn, doanh nghiệp không thu được lợi từ lá chắn thuế. Trong khi đó việc sử dụng tỷ số nợ hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp vừa tận dụng được việc khuếch đại lợi nhuận vừa hưởng lợi nhuận từ lá chắn thuế. Do vậy để đánh giá tỷ số nợ của một doanh nghiệp là an toàn hay rủi ro cần dựa vào ngành nghề doanh nghiệp kinh doanh và tình hình kinh tế tại thời điểm đánh giá. Để đánh giá tình hình tỷ số nợ, phương pháp thời gian là phổ biến khi xem xét sự biến động qua từng năm.
Bên cạnh đó, những ngành nghề kinh doanh khác nhau có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật khác nhau cũng ảnh hưởng đến cơ cấu vốn. Do vậy, để đánh giá một cách chính xác về khả năng tự chủ cần đặt doanh nghiệp trong mối quan hệ so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành. Tỷ số nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu Tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu so sánh tương quan giữa nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu. Tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu cũng tương tự như tỷ lệ tổng nợ trên nguồn vốn nhưng chỉ đánh giá các khoản nợ dài hạn.
Tỷ số này đánh giá mức độ tài trợ bằng nguồn vốn vay dài hạn thường xuyên vào các hoạt động sản xuất kinh doanh.