Tổng quan nghiên cứu

Ngành ca cao toàn cầu hiện có hơn 50 quốc gia tham gia canh tác với tổng diện tích đạt khoảng 50 triệu ha, cung ứng sản lượng 3,6 triệu tấn hạt khô mỗi năm. Trước bối cảnh Tổ chức Ca cao Quốc tế (ICCO) dự báo thị trường thế giới có thể đối mặt mức thiếu hụt khoảng 1 triệu tấn hạt ca cao mỗi năm, việc nâng cao năng lực sản xuất và xuất khẩu trở thành chiến lược cấp thiết đối với ngành nông nghiệp Việt Nam. Tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, thổ nhưỡng bazan màu mỡ cùng khí hậu nhiệt đới ôn hòa mở ra tiềm năng trồng xen canh ca cao lên đến 20.000 ha trên tổng số 41.168 ha đất cây lâu năm. Tuy nhiên, diện tích canh tác thực tế đã sụt giảm nghiêm trọng từ 1.244 ha năm 2013 xuống còn 281 ha vào năm 2016, với sản lượng thu hoạch đạt khoảng 320 đến 381 tấn hạt mỗi năm.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự thiếu hụt chuỗi liên kết giá trị bền vững, công tác quản lý cây giống lỏng lẻo và rào cản tiếp cận vốn đầu tư khiến năng lực cạnh tranh của địa phương chưa tương xứng với tiềm năng. Đề tài xác định hai mục tiêu cụ thể: thứ nhất, đánh giá toàn diện hiện trạng sản xuất, thu mua, sơ chế và thương mại hóa ca cao; thứ hai, hoạch định các giải pháp chính sách đồng bộ nhằm phục hồi và gia tăng giá trị ngành ca cao địa phương. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại ba địa bàn trọng điểm gồm huyện Châu Đức (240 ha), huyện Tân Thành (31 ha) và huyện Xuyên Mộc (10 ha). Khung thời gian dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ năm 2013 đến 2017, kết hợp dữ liệu sơ cấp thu thập trong giai đoạn 2017 – 2018. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học vững chắc nhằm hỗ trợ tỉnh hiện thực hóa mục tiêu quy hoạch 1.300 ha ca cao theo phê duyệt của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng Mô hình Kim cương (Diamond Model) của Michael E. Porter (2008) làm nền tảng phân tích cấu trúc năng lực cạnh tranh ngành ca cao địa phương thông qua sáu yếu tố tương tác:

  • Điều kiện các nhân tố đầu vào: Đánh giá nguồn tài nguyên đất đai, nguồn nước ngầm có thể khai thác đạt 70 triệu m³/năm, chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp (với 584.485 người trong độ tuổi lao động) và hạ tầng kỹ thuật gồm 24 cảng biển đang vận hành công suất 67,5 triệu tấn/năm.
  • Điều kiện về cầu: Phân tích quy mô thị trường xuất khẩu chiếm 82% sản lượng sang Hàn Quốc (khoảng 720 tấn nguyên liệu/năm), Nhật Bản, Bỉ và tiềm năng tiêu thụ nội địa chiếm 18% phục vụ hơn 5,3 triệu lượt du khách hàng năm.
  • Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: Hệ thống 13 cơ sở sơ chế, mạng lưới cung ứng vật tư nông nghiệp và hoạt động của Ban Điều phối ca cao Việt Nam (VCC).
  • Bối cảnh chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp: Mức độ cạnh tranh đất đai giữa ca cao với hồ tiêu (10.525 ha), cao su (23.114 ha), cây điều (9.825 ha) và chiến lược thị trường của các đơn vị chế biến tư nhân.
  • Vai trò của Chính phủ và chính quyền địa phương: Tác động từ Nghị định 55/2015/NĐ-CP, Quyết định số 94/QĐ-UBND về quy hoạch 1.300 ha ca cao và Đề án 04-ĐA/TU về nông nghiệp công nghệ cao.
  • Yếu tố cơ hội: Biến động giá ca cao thế giới đạt mức 3.360 USD/tấn và chứng nhận quốc tế UTZ Certified.

Các khái niệm then chốt bao gồm: năng lực cạnh tranh cấp địa phương, chuỗi giá trị nông sản và cụm ngành sản xuất. Nghiên cứu cũng kế thừa kết quả từ các công trình của Coulter và Abena (2010), Rifin cùng cộng sự (2015) và Nguyễn Hữu Tâm - Lưu Thanh Đức Hải (2016).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp thống kê mô tả định lượng và phân tích định tính chuyên sâu. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ niên giám thống kê giai đoạn 2013 - 2017, báo cáo thường niên của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, dữ liệu từ Cục Trồng trọt và Hội đồng Ca cao Quốc tế (ICCO).

Cỡ mẫu khảo sát thực địa sơ cấp được triển khai vào tháng 10 năm 2017 với cấu trúc mẫu bao gồm:

  • 49 hộ nông dân trực tiếp canh tác ca cao tại 3 huyện Châu Đức, Xuyên Mộc và Tân Thành, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên nhằm phản ánh chính xác các hình thức canh tác xen canh và chuyên canh.
  • 02 chuyên gia kỹ thuật thuộc Chi cục Trồng trọt & Bảo vệ thực vật và Trung tâm Khuyến nông tỉnh.
  • 10 đại diện từ các cơ quan quản lý nhà nước cấp sở (Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Công thương, Sở Kế hoạch & Đầu tư, Sở Khoa học & Công nghệ, Hội Nông dân tỉnh) và UBND các huyện.
  • Đại diện từ 01 trường đại học, 01 tổ chức tín dụng thương mại và 02 doanh nghiệp đầu ngành chế biến ca cao.

Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ đặc thù chuỗi giá trị nông nghiệp, nơi các quyết định sản xuất của nông hộ chịu chi phối mạnh mẽ bởi cơ chế điều phối chính sách, liên kết thị trường và năng lực hỗ trợ kỹ thuật tại cơ sở.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực trạng bộc lộ bốn phát hiện cốt lõi về năng lực cạnh tranh ngành ca cao tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu:

Thứ nhất, tồn tại sự nghịch lý giữa tiềm năng tự nhiên vượt trội và sự suy giảm diện tích canh tác. Bà Rịa – Vũng Tàu sở hữu hơn 45% diện tích đất bazan và phù sa cổ, 70% địa hình bằng phẳng và 88% độ dày tầng canh tác trên 50 cm. Năng suất ca cao bình quân đạt 1,46 tấn/ha, đứng thứ hai khu vực phía Nam. Tuy nhiên, diện tích thực tế năm 2016 chỉ còn 281 ha, đạt chưa đầy 22% so với chỉ tiêu quy hoạch 1.300 ha đến năm 2020.

Thứ hai, mô hình xen canh mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội so với độc canh cây truyền thống. Khi trồng xen ca cao trong vườn điều, lợi nhuận ròng tăng thêm 60 triệu đồng/ha so với mức thu nhập đơn thuần từ điều (khoảng 40 triệu đồng/ha). Mô hình xen canh ca cao trong vườn tiêu giúp tăng thêm 55 triệu đồng/ha bên cạnh mức lợi nhuận 190 triệu đồng/ha của hồ tiêu, trong khi ca cao trồng thuần đạt lợi nhuận bình quân 65 triệu đồng/ha.

Thứ ba, cơ cấu thị trường phụ thuộc lớn vào xuất khẩu thô nhưng sở hữu giá trị chất lượng cao. Xuất khẩu hạt khô chiếm 82% tổng sản lượng thương phẩm, trong khi tiêu thụ nội địa chỉ chiếm 18%. Toàn tỉnh có 13 cơ sở thu mua sơ chế, nhưng chỉ có duy nhất Công ty Ca cao Thành Đạt đầu tư nhà máy chế biến sâu với dây chuyền công nghệ Đức trị giá 30 tỷ đồng, công suất 100 tấn/năm.

Thứ tư, chất lượng hạt ca cao địa phương được quốc tế công nhận với hơn 250 ha đạt chứng nhận UTZ Certified. Cỡ hạt đạt chuẩn cao (80 - 100 hạt/100g) với hương vị lên men đặc trưng, nằm trong nhóm 1/23 quốc gia được ICCO công nhận có 40% sản lượng đạt tiêu chuẩn hương vị hảo hạng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản khiến diện tích ca cao sụt giảm hơn 77% trong giai đoạn 2013 - 2016 là do tâm lý người dân coi ca cao là cây trồng phụ. Hơn 30% diện tích không được đầu tư chăm sóc đúng quy trình, dẫn đến dịch hại bọ xít muỗi bùng phát. Cơ chế quản lý giống cây trồng còn nhiều lỗ hổng khi nông dân chủ yếu mua giống trôi nổi thay vì các dòng vô tính chất lượng cao được công nhận như TD3, TD5, TD8 hay TD11. Mặc dù giá thu mua hạt khô đã tăng mạnh từ 15.000 đồng/kg năm 2005 lên mức 60.000 - 75.000 đồng/kg giai đoạn 2015 - 2016, việc thiếu vắng các hợp đồng bao tiêu ràng buộc pháp lý khiến chuỗi cung ứng dễ đứt gãy.

Để tối ưu hóa việc truyền tải dữ liệu, các phát hiện nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột so sánh biến động diện tích qua các năm, sơ đồ luân chuyển sản phẩm theo 2 kênh phân phối (75% qua trạm sơ chế, 25% qua thương lái) và bảng ma trận SWOT đánh giá từng trụ cột trong Mô hình Kim cương. So với các vùng trọng điểm như Đắk Lắk (2.078 ha, sản lượng 1.978 tấn) hay Bến Tre (1.017 ha, sản lượng 1.000 tấn), Bà Rịa – Vũng Tàu có ưu thế vượt trội về vị trí cửa ngõ cảng biển và tiềm năng công nghiệp chế biến chất lượng cao.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích mô hình kim cương, bốn nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành ca cao:

  • Hoàn thiện chính sách tín dụng và đất đai: Triển khai gói vay ưu đãi từ Quỹ Đầu tư Phát triển và Quỹ Khoa học Công nghệ tỉnh với mức lãi suất 5,0% - 5,5%/năm cho các doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư chế biến sâu. UBND tỉnh và Sở Kế hoạch & Đầu tư cần đẩy nhanh giải ngân nguồn vốn theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP giai đoạn 2018 - 2020.
  • Quy hoạch vùng chuyên canh và cánh đồng mẫu lớn: UBND huyện Châu Đức đẩy mạnh thực hiện Quyết định số 4214/QĐ-UBND để đạt 650 ha ca cao vào năm 2020 (trồng mới 125 ha/năm), nâng năng suất lên 2,2 tấn hạt khô/ha. Chuyển đổi một phần trong 5.100 ha diện tích cao su kém hiệu quả sang mô hình nông nghiệp công nghệ cao trồng xen ca cao.
  • Kiểm soát chất lượng giống và chuyển giao kỹ thuật: Sở Nông nghiệp & PTNT cùng Trung tâm Khuyến nông xây dựng mạng lưới vườn ươm chuẩn hóa, cung ứng 100% giống đầu dòng (TD3, TD5, TD8, TD11) có kiểm định. Tăng cường tập huấn thực hành nông nghiệp tốt, mở rộng quy mô chứng nhận UTZ Certified từ 250 ha lên hơn 500 ha trong giai đoạn 2019 - 2022.
  • Phát triển liên kết chuỗi giá trị và thị trường tiêu thụ: Xây dựng mô hình hợp tác ba nhà (Nhà nước - Doanh nghiệp - Nông dân), hỗ trợ Công ty Ca cao Thành Đạt và các đơn vị chế biến mở rộng công suất lên trên 500 tấn/năm. Đẩy mạnh thương mại hóa sản phẩm sô-cô-la cao cấp, rượu vang ca cao tại thị trường du lịch với hơn 5,3 triệu lượt khách hàng năm của tỉnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý nhà nước và hoạch định chính sách nông nghiệp: Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Công thương và UBND các huyện tiếp cận cơ sở dữ liệu thực chứng để điều chỉnh quy hoạch diện tích 1.300 ha và xây dựng cơ chế hỗ trợ lãi suất cho nông nghiệp địa phương.
  • Doanh nghiệp sản xuất, chế biến và xuất khẩu ca cao: Các đơn vị đầu tư nắm bắt phân tích chuỗi cung ứng, mô hình phân phối 13 cơ sở sơ chế và phương án xây dựng nhà máy chế biến sô-cô-la gắn với nguồn nguyên liệu đạt chuẩn UTZ.
  • Cán bộ khuyến nông và chuyên gia nông học: Đội ngũ kỹ thuật viên ứng dụng các đánh giá về đặc tính 8 dòng giống vô tính, biện pháp phòng trừ bọ xít muỗi và quy trình ủ lên men đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, châu Âu.
  • Học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về việc vận dụng Mô hình Kim cương của Michael Porter trong phân tích năng lực cạnh tranh nông sản cấp tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Hạt ca cao Bà Rịa – Vũng Tàu có điểm mạnh đặc trưng nào trên thị trường quốc tế?
Hạt ca cao Bà Rịa – Vũng Tàu đạt kích thước lớn từ 80 đến 100 hạt/100g, tỷ lệ bơ cao và hương vị đậm đà sau lên men. Sản phẩm nằm trong nhóm 40% sản lượng ca cao Việt Nam được ICCO xếp hạng hương vị hảo hạng, được thị trường Nhật Bản, Bỉ và Hàn Quốc ưa chuộng.

Nguyên nhân chính khiến diện tích trồng ca cao của tỉnh sụt giảm mạnh là gì?
Diện tích giảm từ 1.244 ha năm 2013 xuống 281 ha năm 2016 do giá tiêu thụ biến động, nông dân xem ca cao là cây phụ nên lơ là chăm sóc, dịch bọ xít muỗi lây lan và thiếu các hợp đồng bao tiêu bền vững với doanh nghiệp.

Hiệu quả kinh tế của mô hình trồng xen ca cao đạt mức bao nhiêu?
Trồng xen ca cao trong vườn điều giúp tăng thêm lợi nhuận khoảng 60 triệu đồng/ha so với độc canh điều. Trồng xen trong vườn tiêu mang lại thêm 55 triệu đồng/ha, tối ưu hóa hiệu quả sử dụng đất mà không làm giảm năng suất cây trồng chính.

Mô hình Kim cương của Michael Porter được ứng dụng như thế nào trong đề tài?
Mô hình đánh giá toàn diện 6 trụ cột gồm: nhân tố sản xuất, điều kiện cầu, ngành công nghiệp hỗ trợ, chiến lược doanh nghiệp, vai trò chính quyền tỉnh và cơ hội thị trường để định vị chính xác điểm nghẽn và lợi thế cạnh tranh của địa phương.

Chứng nhận UTZ Certified đóng vai trò gì trong chuỗi giá trị ca cao địa phương?
Với hơn 250 ha được cấp chứng nhận, tiêu chuẩn UTZ chuẩn hóa quy trình ghi chép nhật ký canh tác, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, bảo đảm an toàn sinh thái và giúp sản phẩm ca cao thâm nhập thuận lợi vào các thị trường cao cấp.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh cấp địa phương thông qua Mô hình Kim cương của Michael Porter áp dụng cho ngành ca cao tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
  • Nghiên cứu chỉ rõ thực trạng suy thoái diện tích từ 1.244 ha xuống 281 ha giai đoạn 2013 - 2016, đồng thời khẳng định tiềm năng nâng cao thu nhập thêm 55 - 60 triệu đồng/ha qua mô hình xen canh.
  • Đề tài đóng góp hệ thống giải pháp liên hoàn bao gồm: hoàn thiện chính sách vốn vay ưu đãi 5,0% - 5,5%/năm, chuẩn hóa cơ cấu giống TD3, TD5, TD8, TD11 và mở rộng quy mô vùng nguyên liệu đạt chuẩn UTZ.
  • Kế hoạch hành động giai đoạn tiếp theo cần tập trung thực hiện mục tiêu đưa huyện Châu Đức đạt 650 ha ca cao vào năm 2020 và phát triển nhà máy chế biến sâu tại huyện Tân Thành.
  • Các cấp quản lý, doanh nghiệp và nông hộ cần nhanh chóng kích hoạt các biên bản ghi nhớ hợp tác sản xuất - tiêu thụ để đưa ca cao trở thành ngành kinh tế mũi nhọn bền vững của tỉnh.