MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Hệ thống Ngân hàng đƣợc xem là xƣơng sống của nền kinh tế, là nơi giúp cho dòng vốn tài chính đƣợc khai thông vì thế Ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế cũng nhƣ là công cụ quan trọng để điều hành nền kinh tế. Hiện nay, ngành ngân hàng nói chung và Sacombank nói riêng đang hoạt động trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu hóa.
Cụ thể, vào ngày 7/11/2006 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO. Theo đó, ngành Ngân hàng Việt Nam phải hội nhập chính thức kể từ năm 2008. Hiện nay, ngành Ngân hàng Việt Nam đang diễn ra sự cạnh tranh gây gắt giữa 03 khối Ngân hàng gồm: khối Ngân hàng thƣơng mại cổ phần, khối Ngân hàng thƣơng mại cổ phần quốc doanh và khối Ngân hàng nƣớc ngoài đã đƣợc hoạt động đầy đủ nhƣ Ngân hàng nội địa. Theo đó, với tiềm lực tài chính mạnh, trình độ quản trị cao, công nghệ hiện đại thì việc khối Ngân hàng thƣơng mại cổ phần, cụ thể là Sacombank đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong cuộc chiến tranh giành thị phần.
Trƣớc tình hình trên, việc tìm hiểu và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Sacombank để từ đó đƣa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính, hiệu quả kinh doanh cũng nhƣ nâng cao năng lực cạnh tranh để Sacombank có thể đứng vững và phát triển vững chắc trong quá trình hội nhập là một vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng. Đó là lý do tôi thực hiện đề tài: “GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƢƠNG TÍN TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ”. Phƣơng pháp nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu sẽ vận dụng phƣơng pháp phân tích thống kê và tổng hợp, quy nạp.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mục tiêu nghiên cứu. - Làm rõ lý luận cạnh tranh, các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại. - Phân tích, đánh giá hiện trạng năng lực cạnh tranh của Sacombank.
- Đƣa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Sacombank trong bối cảnh hội nhập. Phạm vi nghiên cứu. Phân tích các hoạt động của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thƣơng Tín trong khoảng thời gian từ năm 2008 cho đến 2012. Để xác định vị thế và năng lực cạnh tranh của Sacombank, ngƣời viết đã phân tích Sacombank trong tƣơng quan với 05 NHTM niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán gồm Ngân hàng TMCP Công Thƣơng VN, Ngân hàng TM CP Ngoại Thƣơng VN, Ngân hàng TMCP Á Châu, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu VN, và Ngân hàng TMCP Quân Đội.
Lý do chọn 05 NHTM này vì đây là các NHTM đƣợc NHNN và thị trƣờng tài chính đánh giá thuộc nhóm NHTM có năng lực cạnh tranh cao nhất. Ngoài ra, 4 trên 5 NHTM này có vốn góp lớn từ các tập đoàn tài chính nƣớc ngoài. Hơn nữa, do hạn chế từ việc lấy dữ liệu của các NHTM lớn chƣa niêm yết khác nên phạm vi nghiên cứu của tác giả có phần hạn chế, chỉ giới hạn phân tích 05 NHTM trên tuy nhiên theo tác giả 05 NHTM này cũng có tính đại diện cao. Nội dung nghiên cứu.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn tốt nghiệp gồm 3 chƣơng sau: Chƣơng một: Tổng quan về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng hai: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thƣơng Tín. Chƣơng ba: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thƣơng Tín trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Năng lực cạnh tranh. Khái niệm năng lực cạnh tranh. Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trƣờng là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, ngƣời tiêu dùng) nhằm giành lấy những vị thế tƣơng đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa để thu đƣợc nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất với nhau hoặc có thể xảy ra giữa ngƣời sản xuất với ngƣời tiêu dùng khi ngƣời sản xuất muốn bán hàng hóa với giá cao, ngƣời tiêu dùng lại muốn mua đƣợc với giá thấp.
Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, ngƣời ta đã sử dụng khái niệm năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Nhƣ vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trƣớc hết phải đƣợc tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ đƣợc tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trƣờng.
Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp đƣợc đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tƣơng ứng với các đối tác cạnh tranh. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập đƣợc lợi thế so sánh với đối tác của mình. Theo Michael Porter, “Năng lực cạnh tranh liên quan đến việc xác định vị trí của doanh nghiệp để phát huy nội lực của mình trƣớc đối thủ cạnh tranh”. Nhƣ vậy, nếu có vũ khí nội lực sắc bén, doanh nghiệp sẽ dễ có đƣợc ƣu thế trên thƣơng trƣờng, có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng nhƣ lôi kéo đƣợc khách hàng của đối tác cạnh tranh cũng nhƣ có nhiều khả năng để giành thắng lợi trƣớc các đối thủ cạnh tranh.
Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng. Thƣờng thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này và có hạn chế về mặt khác. Vấn đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết đƣợc điều này và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng. Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong một doanh nghiệp đƣợc biểu hiện thông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp nhƣ Marketing, tài chính, sản xuất, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ thống thông tin… 1.
Khái niệm năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và những đặc điểm cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng. Sản phẩm của ngân hàng mang tính đặc thù (kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt là tiền tệ) nên năng lực cạnh tranh cũng mang tính đặc thù. Tuy nhiên, NHTM cũng là một doanh nghiệp, cũng phải xem xét đến khả năng tối đa hóa lợi nhuận. Do đó có thể định nghĩa: Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng mà do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm cũng cố và mở rộng thị phần; gia tăng lợi nhuận, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”.
Năng lực cạnh tranh của NHTM đƣợc đánh giá qua các yếu tố: năng lực tài chính; năng lực công nghệ; nguồn nhân lực; năng lực quản trị điều hành; mạng lƣới hoạt động; mức độ đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh; …trong đó, năng lực tài chính và năng lực công nghệ đƣợc xem là những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định năng lực cạnh tranh của NHTM. Ngành ngân hàng kinh doanh chủ yếu là các dịch vụ tài chính, liên quan tới tiền và hoạt động ngân hàng mang tính hệ thống và bị chi phối mạnh mẽ bởi ngân hàng nhà nƣớc (NHNN) do đó cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng có các đặc điểm sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Cạnh tranh trong điều kiện chịu sự chi phối mạnh mẽ của các chính sách tài chính, tiền tệ của nhà nƣớc, chịu sự tác động của các biến động kinh tế vĩ mô nhƣ lạm phát, lãi suất, tăng trƣởng kinh tế. Sự lớn mạnh của đối thủ cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng không đồng nghĩa với nhất thiết triệt hạ đối thủ mà thậm chí sự lớn mạnh của đối thủ lại là điều kiện để cho hệ thống ngân hàng phát triển. Sự phá sản của một ngân hàng nào đó đều dẫn tới hiệu ứng “domino” và tai họa cho một nền kinh tế hoặc cho cả một quốc gia.
Ví dụ khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan, kéo theo cả Đông Nam Á năm 1997 và Mehico, Braxin. Do vậy, cạnh tranh trong lĩnh vực nhạy cảm này không phải là cuộc chiến một mất một còn mà là cuộc chiến cùng thắng giữa các ngân hàng. Đặc điểm sản phẩm của ngành ngân hàng mà biểu hiện rõ nhất trong thanh toán chẳng hạn, quá trình cung cấp sản phẩm không chỉ do một ngân hàng thực hiện mà thông qua ngân hàng khác cụ thể là thực hiện yêu cầu chuyển tiền của khách hàng từ ngân hàng này tới ngân hàng khác, do vậy mặc dù cạnh tranh nhƣng các ngân hàng vẫn phải có sự hợp tác với nhau để hoạt động trong quá trình cung ứng sản phẩm và tạo sự linh hoạt giữa các ngân hàng. Các nhân tố ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM.
Môi trƣờng kinh doanh. a) Các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế. Độ ổn định của nền kinh tế vĩ mô thông qua các chỉ tiêu nhƣ chỉ số lạm phát, lãi suất, tỉ giá hối đoái, cán cân thanh toán quốc tế… Sức mạnh của nền kinh tế thể hiện qua quy mô, mức độ tăng trƣởng GDP, dự trữ ngoại hối… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Mức độ hội nhập của nền kinh tế thể hiện ở chính sách thuế quan, rào cản thƣơng mại, khả năng thu hút vốn FDI, sự gia tăng trong hoạt động xuất nhập khẩu… Tiềm năng tài chính, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động trong nƣớc. Các nhân tố này tác động đến khả năng tích lũy và đầu tƣ của ngƣời dân, khả năng thu hút tiền gửi, cấp tín dụng và phát triển các sản phẩm của NHTM, khả năng mở rộng hay thu hẹp mạng lƣới hoạt động của ngân hàng…Từ đó làm tăng hoặc giảm nhu cầu mở rộng tín dụng, triển khai các dịch vụ, mở rộng thị phần của NHTM.