phần mở đầu và phần kết luận, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: NHTM và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội 7 CHƢƠNG 1 NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm về Ngân hàng thƣơng mại Hoạt động ngân hàng đã xuất hiện trên thế giới từ rất lâu và mầm mống của hoạt động ngân hàng gắn liền với các bàn đổi tiền - “Bancus”, đây chính là cơ sở để hình thành nên thuật ngữ “Bank” từ thế kỷ thứ V trƣớc Công nguyên. Và tổ chức tƣơng đối hoàn chỉnh gần với quan niệm hiện đại đƣợc hình thành sớm nhất tại Tây Ban Nha (năm 1401) - đó là Ngân hàng Bacelona, ngân hàng này có thể đƣợc xem là NHTM đầu tiên trên thế giới. Qua quá trình hình thành và phát triển, có một số khái niệm về NHTM của các nƣớc trên thế giới nhƣ sau: Theo Đạo luật của nƣớc Cộng hòa Pháp năm 1941 đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những doanh nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Ở Mỹ: “Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính”.
Tại Việt Nam: pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam có quy định: “NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.” Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 đã đƣa ra khái niệm: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu 8 hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.” Trong đó, tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. Ngân hàng thƣơng mại đƣợc định nghĩa là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung cấp dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Nhƣ vậy, NHTM là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, thực hiện giao dịch trực tiếp với các cá nhân, tổ chức kinh tế, với nội dung chủ yếu là nhận tiền gửi để cho vay, thực hiện chiết khấu, cung cấp các phƣơng tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng khác. Chức năng của Ngân hàng thƣơng mại (i). Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ của nền kinh tế Trong nền kinh tế có những chủ thể có dƣ tiền và khoản tiền đó chƣa đƣợc sử dụng một cách triệt để nhƣng họ cũng muốn tiền này sinh lời cho mình bằng cách cho vay và có những chủ thể cần tiền để hoạt động kinh doanh.
Nhƣng những chủ thể này có thể không quen biết nhau và cũng có thể không tin tƣởng nhau nên tiền vẫn chƣa đƣợc lƣu thông. Ngân hàng thƣơng mại với vai trò là trung gian, nhận tiền từ ngƣời muốn cho vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho ngƣời muốn vay vay. Thực hiện đƣợc điều này NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế; mặt khác với số vốn này NHTM sẽ đáp ứng đƣợc nhu cầu vốn của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh. Qua đó nó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
9 NHTM vừa là ngƣời đi vay vừa là ngƣời cho vay và với số lãi suất chênh lệch có đƣợc nó sẽ duy trì hoạt động của mình. Vai trò trung gian này trở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu… NHTM có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tƣ; chuyển giao mệnh lệnh trên thị trƣờng chứng khoán; đảm nhận việc mua trái phiếu công ty… (ii). Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán Thực hiện chức năng này, ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khoản. Khi các khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, họ sẽ đƣợc đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng tiện lợi, nhất là đối với các khoản thanh toán có giá trị lớn, ở mọi địa phƣơng mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém khó khăn và không an toàn (ví dụ: chi phí lƣu thông, vận chuyển, bảo quản…).
Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lƣu thông và độc quyền quản lý các công cụ đó (sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán.) đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều vể chi phí lƣu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lƣu thông hàng hóa. Ở các nƣớc phát triển phần lớn thanh toán đƣợc thực hiện qua sec và đƣợc thực hiện bằng việc bù trừ thông qua hệ thống ngân hàng thƣơng mại. Ngoài ra việc thực hiện chức năng là thủ quỹ của các doanh nghiệp qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán đã tạo cơ sở cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ cho vay. Hiện nay ở các nƣớc công nghiệp phát triển việc sử dụng hình thức chuyển tiền bằng điện tử là chuyện bình thƣờng và chính điều này đƣa đến việc không sử dụng séc ngân hàng mà dùng thẻ nhƣ thẻ tín dụng.
Họ thanh toán bằng cách nối mạng các máy vi tính của các ngân hàng thƣơng mại trong nƣớc nhằm thực hiện chuyển vốn từ tài khoản ngƣời này sang ngƣời khác một cách nhanh chóng. Chức năng tạo tiền Mở rộng tiền gửi là khả năng vốn có của hệ thống NHTM gắn liền với hoạt động tín dụng và thanh toán. Từ một khoản tiền gửi ban đầu, thông qua cho vay, thanh toán, số tiền gửi đã đƣợc tăng lên gấp bội so với lƣợng tiền gửi ban đầu. Sự kết hợp giữa chức năng tập trung vốn cho nền kinh tế và chức năng trung gian thanh toán làm cho hệ thống NHTM có khả năng tạo tiền gửi thanh toán.
Thông qua chức năng làm trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động để cho vay, số tiền cho vay ra lại đƣợc khách gửi vào Ngân hàng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ. Với quá trình này hệ thống NHTM đã làm tăng phƣơng tiện thanh toán cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu chi trả xã hội. Nhƣ vậy, có thể thấy nếu bản thân các Ngân hàng mạnh về số lƣợng đại lý, mạng lƣới chi nhánh, khách hàng, dịch vụ, sản phẩm chất lƣợng và đa dạng, quản lý công nghệ tốt giảm thiểu lƣợng tiền cần phải dự trữ để thanh toán thì khả năng tạo tiền của ngân hàng đó rất tốt. Ngân hàng có dòng tiền nhiều, lợi nhuận lớn, sử dụng công nghệ, năng suất lao động và khả năng điều hành để nâng cao năng lực sử dụng vốn (có thể lên đến 98%).
Điều này cũng là một trong những yếu tố để thể hiện năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thƣơng mại 1. Nghiệp vụ huy động vốn Huy động vốn là quá trình NHTM nhận tiền gửi của tổ chức và cá nhân dƣới các hình thức nhận tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, phát hành giấy tờ có giá…và tiền vay của NHNN, các tổ chức tín dụng khác. Đây là một trong những hoạt động cơ bản, có tính chất sống còn đối với bất kỳ NHTM nào.
Nghiệp vụ huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhƣng nó là nghiệp vụ rất quan trọng. Nghiệp vụ huy động vốn 11 góp phần mang lại nguồn vốn chủ yếu cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác. Thông qua nghiệp vụ huy động vốn NHTM có thể đo lƣờng đƣợc uy tín cũng nhƣ sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng. Từ đó, NHTM có các biện pháp không ngừng hoàn thiện hoạt động huy động vốn để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng.
Nghiệp vụ cho vay và đầu tư NHTM đƣợc cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dƣới hình thức cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhƣợng và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh ngân hàng, phát hành thẻ tín dụng, bao thanh toán trong nƣớc, bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng đƣợc phép thực hiện thanh toán quốc tế và cuối cùng là các hình thức cấp tín dụng khác sau khi đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc chấp thuận. Trong các hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn- Bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Hoạt động đầu tƣ của NHTM hiện nay cơ bản bao gồm đầu tƣ tài chính, góp vốn mua cổ phần và góp vốn liên danh. Trong đó: Đầu tƣ tài chính là nghiệp vụ quan trọng của ngân hàng trong nền kinh tế thị trƣờng khi thị trƣờng tài chính phát triển.
Các NHTM thực hiện nghiệp vụ đầu tƣ tài chính nhằm hƣớng tới các mục tiêu: (i) Tìm kiếm lợi nhuận thông qua 2 cách thức là chênh lệch giá và hƣởng lãi nắm giữ chứng khoán; (ii) Tăng khả năng thanh khoản vì các tài sản tài chính vừa có tính lỏng vừa sinh lãi; (iii) Đa dạng hóa khoản mục đầu tƣ, phân tán rủi ro. Góp vốn mua cổ phần thực chất là hình thức đầu tƣ vào các chứng khoán vốn.