CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.1 Khái niệm về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, năng lực cạnh tranh 1.1 Cạnh tranh Khái niệm về cạnh tranh hiện đang có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng rộng rãi cho phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành và phạm vi quốc gia… Theo Karl Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus trong cuốn Kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường”. Quan điểm của Micheal E.
Porter cho rằng cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi và doanh nghiệp cần phải xác định lợi thế cạnh tranh và lựa chọn chiến lược cạnh tranh phù hợp. Quan điểm của Chan Kim và Mauborgne lại cho rằng cạnh tranh là không cần thiết, cạnh tranh là lãng phí nguồn lực, chiến lược đại dương xanh sẽ giúp mọi doanh nghiệp vô hiệu hóa cạnh tranh, “bằng cách tạo ra những khoảng trống thị trường không có cạnh tranh, những khoảng trống mà cạnh tranh trở nên không còn quan trọng nữa”. Thay vì tranh giành và chia nhỏ thị trường, các doanh nghiệp có thể nuôi dưỡng, phát triển nhu cầu của khách hàng, tạo nên những thị trường mới.2 Lợi thế cạnh tranh “Một công ty được xem là có lợi thế cạnh tranh khi tỷ lệ lợi nhuận của nó cao hơn tỷ lệ bình quân trong ngành. Và công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững khi nó có thể duy trì tỷ lệ lợi nhuận cao trong một thời gian dài.” – Giáo trình quản trị chiến lược – PGS – TS Lê Thế Giới Theo Micheal E.
Porter: “Lợi thế cạnh tranh phát sinh từ các giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho người mua, giá trị này phải lớn hơn các chi phí của doanh nghiệp đã bỏ ra”. Giá trị ở đây có thể hiểu là mức mà người mua sẵn lòng thanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 toán cho sản phẩm, dịch vụ. Giá trị cao hơn sẽ xuất hiện khi doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ tương đương nhưng giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh; hoặc khi doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ độc đáo, khác biệt với các đối thủ cạnh tranh và người mua sẵn lòng chi trả với mức giá cao hơn bình thường. Một quan điểm về cạnh tranh được nhiều người đồng ý: “Lợi thế cạnh tranh là năng lực phân biệt của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh mà năng lực này được khách hàng đánh giá cao và tạo ra nhiều giá trị hơn cho khách hàng”.
Porter có hai dạng lợi thế cạnh tranh mà doanh nghiệp có thể sở hữu, đó là chi phí thấp hoặc khác biệt hóa. Hai dạng lợi thế cạnh tranh cơ bản này kết hợp với phạm vi hoạt động của doanh nghiệp đang theo đuổi sẽ tạo ra ba chiến lược cạnh tranh tổng quát: chiến lược chi phí thấp, chiến lược khác biệt hóa và chiến lược tập trung. Chiến lược tập trung có hai hình thức là tập trung vào chi phí thấp hoặc tập trung vào khác biệt hóa.1: Các chiến lược cạnh tranh cơ bản LỢI THẾ CẠNH TRANH Chi phí thấp Khác biệt hóa PHẠM VI Rộng Chi phí thấp Khác biệt hóa CẠNH TRANH Tập trung vào chi Tập trung vào khác Hẹp phí thấp biệt hóa 1.3 Năng lực cạnh tranh Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã định nghĩa về năng lực cạnh tranh cho cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Porter thì “Năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh là khả năng tạo dựng, duy trì và sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, để tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”. Năng lực cạnh tranh có thể được phân biệt thành ba cấp độ: (1) Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia, (2) Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành/sản phẩm, (3) Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Ba cấp độ này có mối liên quan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau.
Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp trước hết chính là các yếu tố bên trong doanh nghiệp như: Các nguồn lực về tài chính, con người, công nghệ; Các kênh phân phối; Khả năng chiếm lĩnh thị trường, … Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm và thị phần mà doanh nghiệp đang nắm giữ và hiệu quả sản xuất kinh doanh.2 Các yếu tố môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh Theo TS. Nguyễn Hữu Lam và cộng sự (2011), các yếu tố môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh có thể phân loại thành môi trường tổng quát và môi trường ngành.1 Môi trường tổng quát Môi trường tổng quát là môi trường bao trùm lên hoạt động của tất cả các tổ chức và có ảnh hưởng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của tổ chức đó. Môi trường tổng quát có ảnh hưởng lâu dài đến các doanh nghiệp và khó bị tác động hay bị kiểm soát mà các doanh nghiệp còn phải phụ thuộc vào nó. Khi môi trường tổng quát thay đổi sẽ có những tác động nhất định đến các đối tượng có liên quan.
Sự phản ứng của các đối tượng này sẽ làm xuất hiện cả cơ hội và đe dọa đối với hoạt động của doanh nghiệp. Môi trường tổng quát gồm các thành phần chủ yếu: Môi trường kinh tế vĩ mô Đây là một yếu tố rất quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp và năng đông hơn so với một số yếu tố khác của môi trường tổng quát. Những diễn biến của môi trường LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 kinh tế vĩ mô bao giờ cũng chứa đựng những cơ hội và đe dọa khác nhau đối với mỗi doanh nghiệp. Một số yếu tố cơ bản của môi trường kinh tế vĩ mô bao gồm: Xu hướng của tổng sản phẩm quốc nội và tổng sản phẩm quốc dân; Lãi suất và xu hướng của lãi suất; Cán cân thanh toán quốc tế; Xu hướng của tỷ giá hối đoái; Lạm phát; Hệ thống thuế và mức thuế; Xu hướng tăng giảm của thu nhập; Các biến động trên thị trường chứng khoán.
Môi trường chính trị và luật pháp Bao gồm hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách của chính phủ, hệ thống luật pháp hiện hành, các xu hướng chính trị ngoại giao của chính phủ và những diễn biến chính trị trong nước, trong khu vực và trên toàn thế giới. Sự ổn định chính trị, hệ thống pháp luật rõ ràng sẽ tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp, là cơ sở đảm bảo sự bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh hiệu quả. Để tận dụng cơ hội và giảm thiểu nguy cơ, các doanh nghiệp phải nắm bắt được những quan điểm, những quy định, những ưu tiên, những chương trình chi tiêu của Chính phủ và phải nhạy cảm trước những thay đổi của xu hướng chính trị và đối ngoại… Môi trường Văn hóa xã hội Bao gồm những chuẩn mực và giá trị được chấp nhận và tôn trọng bởi một xã hội hoặc một nền văn hóa cụ thể. Các yếu tố cấu thành môi trường văn hóa xã hội có ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh: Quan niệm về đạo đức, thẩm mỹ, lối sống, nghề nghiệp; Những phong tục, tập quán, truyền thống; Trình độ nhận thức và học vấn; … Sự tác động của yếu tố văn hóa xã hội thường có tính dài hạn hơn các yếu tố khác, phạm vi tác động cũng rộng hơn.
Những hiểu biết về mặt văn hóa xã hội sẽ là những cơ sở rất quan trọng cho các nhà quản trị trong quá trình quản trị chiến lược ở tổ chức. Môi trường dân số Những thay đổi trong môi trường dân số sẽ tác động trực tiếp đến sự thay đổi của môi trường kinh tế và xã hội, dẫn đến ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 doanh nghiệp. Trong việc hoạch định chiến lược sản phẩm, thị trường, tiếp thị … nhà quản trị rất cần tìm hiểu các dữ liệu về môi trường dân số. Một số yếu tố cần quan tâm: Tổng dân số, tỷ lệ tăng dân số; Kết cấu và xu hướng thay đổi của dân số về tuổi tác, thu nhập, giới tính, nghề nghiệp; Các xu hướng dịch chuyển dân số, … Môi trường tự nhiên Là một yếu tố quan trọng trong cuộc sống loài người, bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, … Đây là một trong những yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ trong một số trường hợp.
Hiện nay, hiện tượng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, các nguồn tài nguyên càng khan hiếm và cạn kiệt, môi trường sinh thái mất cân bằng, … Do đó, doanh nghiệp cần phải chú trọng đến việc duy trì, tái tạo môi trường tự nhiên, có ý thức tiết kiệm và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nghiên cứu phát triển các sản phẩm, công nghệ góp phần bảo vệ mội trường, giảm thiểu tác động của ô nhiễm. Môi trường công nghệ Trong điều kiện kinh doanh hiện nay, môi trường công nghệ thay đổi nhanh chóng đã tạo ra rất nhiều cơ hội và cũng như đe đọa đối với doanh nghiệp. Các sản phẩm thay thế với công nghệ mới tiên tiến hơn sẽ đe dọa đến các sản phẩm hiện hữu. Sự bùng nổ công nghệ mới làm cho các công nghệ cũ nhanh chóng bị lỗi thời, giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mới xâm nhập vào ngành, … Tuy nhiên, sự phát triển của công nghệ cũng đem lại rất nhiều cơ hội cho doanh nghiệp như cơ hội sản xuất sản phẩm với giá rẻ hơn, chất lượng cao hơn, nhiều tính năng hơn, tăng cường sức cạnh tranh, tạo ra nhiều cơ hội phát triển sản xuất và hoàn thiện sản phẩm … 1.