phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có kết cấu như sau: Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cán bộ Chƣơng 2. Thực trạng năng lực cán bộ nghiên cứu trẻ của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội Chƣơng 3. Một số giải pháp nâng cao năng lực cán bộ nghiên cứu trẻ của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội giai đoạn 2015- 2020.
7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CÁN BỘ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Cán bộ Ở nước ta, khái niệm “cán bộ”, “công chức” có từ lâu. Nhưng chỉ đến năm 1950, sau 05 năm đất nước ta giành độc lập thì khái niệm này mới xuất hiện trong văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.
Khái niệm được biết đến đầu tiên, cán bộ là “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong nước hay ở nước ngoài đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”1. Trải qua diễn biến lịch sử của đất nước, cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm cán bộ được phân chia rõ hơn, có nhiều cách gọi và được thể hiện dưới nhiều thể loại văn bản khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản khái niệm cán bộ được hiểu chung là những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Nhà nước; ngoài cán bộ còn có các khái niệm về công chức, viên chức chỉ những người cũng làm việc trong các cơ quan, đơn vị này. Theo quy định tại Điều 4 Luật Cán bộ, công chức ngày 13/11/2008 thì cán bộ, công chức được hiểu như sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng 1 Điều 1, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định quy chế công chức Việt Nam.
8 lương từ ngân sách nhà nước. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật 2. Những đối tượng làm việc còn lại làm việc trong các cơ quan, đơn vị trên là những người lao động theo quy định của Bộ Luật lao động.
Để thống nhất trong nghiên cứu, các đối tượng trên được gọi chung là cán bộ. Cán bộ trẻ Hiện nay chưa có văn bản quy định cụ thể về độ tuổi của cán bộ trẻ bởi điều này phụ thuộc vào mục tiêu và đặc thù của từng yêu cầu, nhiệm vụ nhất định. Luật Thanh niên (TN) quy định “Thanh niên là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 16 - 30 tuổi”. 2 2 Điều 2 Luật Viên chức ngày 15/11/2010.
9 Tại chỉ thị số 37-CT/TW ngày 4-8-2009 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp, trong đó quy định cơ cấu 3 độ tuổi quy định đối với cấp ủy thì nhóm tuổi đầu tiên được gọi là cán bộ trẻ (dưới 40 tuổi) và chiếm tỷ lệ không dưới 15%. Tại Quyết định số 567 ngày 22/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý nhà nước cho 100% cán bộ, công chức trẻ (tuổi không quá 30) tại 2.333 xã thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc, miền núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo giai đoạn 2014 - 2020. Bên cạnh đó, cũng có một số cách gọi cán bộ trẻ là những người trong độ tuổi dưới 30 tuổi. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, cán bộ trẻ được hiểu là những cán bộ đủ tuổi lao động theo quy định của Bộ Luật lao động nhưng không quá 35 tuổi.
Về khách quan, cán bộ trẻ phần lớn có ít kinh nghiệm chuyên môn và kỹ năng sống nhưng có điểm mạnh là sự năng động, nhiệt huyết của tuổi trẻ, có tinh thần xung kích và dám nghĩ, dám làm. Vì vậy, để phát huy năng lực của cán bộ trẻ, cần phải hiểu rõ các điểm mạnh và điểm yếu để có các hình thức bố trí, sử dụng, hơp lý và đào tạo, phát triển phù hợp. Cán bộ nghiên cứu trẻ Nghiên cứu khoa học (NCKH) là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Cán bộ nghiên cứu trẻ (sau đây gọi tắt là CBNCT) là những cán bộ có độ tuổi dưới 35 thực hiện công tác nghiên cứu khoa học, tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản phẩm và quy trình mới nhằm ứng dụng vào thực tiễn đời sống kinh tế xã hội.
Năng lực Theo V.Lênin, phẩm chất cao quý của cán bộ được hiểu là họ có lòng trung thành với sự nghiệp và có năng lực. Vậy năng lực là gì? Khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và tùy theo từng lĩnh vực nhất định sẽ có các năng lực đặc thù. Theo từ điển tiếng Việt thì năng lực được hiểu là khả năng đủ để làm một công việc nào đó hay “năng lực” là những điều kiện được tạo ra hoặc vốn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Theo Bernard Wyne (1997), Competency Based Approach to Training and Development “Năng lực là kỹ năng, hiểu biết, hành vi, thái độ được tích lũy mà một người sử dụng để đạt được kết quả công việc mong muốn của họ”.
Hoặc “năng lực là sự tổng hòa của các yếu tố kiến thức, kỹ năng, hành vi và thái độ góp phần tạo ra tính hiệu quả trong công việc của mỗi người”.2010 của Đại học Đà Nẵng). Có ý kiến lại cho rằng “Năng lực là khả năng của một người để làm một việc gì đó, để xử lý một tình huống và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một môi trường xác định” hay “năng lực là khả năng sử dụng các tài sản, tiềm lực của con người như kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất khác để đạt được các mục tiêu cụ thể trong một điều kiện xác định”. Thông thường năng lực gồm có các thành tố là kiến thức, kỹ năng và thái độ. Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu, tác giả tập trung tìm hiểu năng lực cán bộ dựa trên “sự tổng hòa các yếu tố kiến thức và kỹ năng nhằm tạo ra hiệu quả công việc hoặc đạt được một mục tiêu nhất định”.
Đặc điểm của năng lực được thể hiện cụ thể như sau: - Điều kiện cần: kiến thức và kỹ năng để thực hiện công việc. - Điều kiện đủ: hiệu suất thực hiện. - Bất kỳ chủ thể nào cũng có khả năng về một lĩnh vực nào đó và có thể phát huy năng lực. 11 - Năng lực không sẵn có mà đòi hỏi phải có quá trình học tập, trau dồi và hoàn thiện.
- Năng lực không phải là bất biến mà được sử dụng trong mọi hoàn cảnh môi trường. Ở thời điểm hay môi trường này, năng lực được thể hiện, phát huy tác dụng, nhưng ở thời điểm khác thì cần phải có loại năng lực khác. Mỗi thời kỳ, mỗi hoàn cảnh, môi trường khác nhau đặt ra yêu cầu về năng lực khác nhau. - Thông thường năng lực được phân thành 4 mức độ: Có thực hiện công việc khi được hướng dẫn, kèm cặp cụ thể thường xuyên; Thực hiện được công việc, nhưng thỉnh thoảng vẫn cần sự hướng dẫn; Có thể thực hiện tốt công việc một cách thành thạo, độc lập; Thực hiện công việc một cách thành thạo và có khả năng hướng dẫn được cho người khác.
Do vậy, xác định đúng năng lực của cá nhân, bố trí đúng người, đúng việc, khơi dậy niềm đam mê công việc, phát huy tinh thần học tập, nghiên cứu và sáng tạo là một trong những nhân tố phát huy năng lực cán bộ. Năng lực cán bộ nghiên cứu trẻ Dựa trên khái niệm về năng lực, có thể hiểu năng lực CBNCT “là tổng hòa các yếu tố kiến thức và kỹ năng để vận dụng có hiệu quả vào thực hiện công việc nhằm đạt được một mục tiêu xác định”. Trong từng môi trường công việc, sẽ có các căn cứ, tiêu chuẩn để đánh giá năng lực cán bộ khác nhau. Trong các cơ quan, đơn vị Nhà nước, khi tuyển dụng, tiếp nhận, bổ nhiệm cán bộ nói chung phải đáp ứng những tiêu chuẩn cơ bản, ngoài ra còn phải có những tiêu chuẩn riêng tùy thuộc vào lĩnh vực làm việc.
Theo Nghị quyết Trung ương 3 khóa 8 thì tiêu chuẩn chung đối với cán bộ, trong đó có cán bộ trẻ: 12 - Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. - Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức tổ chức kỷ luật.
Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm. - Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.