CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN NGUỒN VỐN NGÂN HÀNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM 1.1 Tổng quan lý thuyết 1. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ Theo Nhóm Ngân hàng thế giới (World Bank Group), một doanh nghiệp được coi là nhỏ và vừa nếu có ít hơn 300 lao động, tổng tài sản và doanh thu hàng năm dưới 15 triệu đô la Mỹ. Ngoài ra, World Bank Group còn sử dụng thêm tiêu chí quy mô vay vốn để phân loại các doanh nghiệp. Tại các nước đang phát triển, doanh nghiệp vay vốn ít hơn một triệu đô la Mỹ được xem là nhỏ và vừa Doanh nghiệp vừa và nhỏ là bộ phận cấu thành không thể thiếu được của nền kinh tế, có mối quan hệ tương hỗ không thể tách rời với các chủ thể khác.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là tên gọi tắt của doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa được đánh giá theo tiêu chí về vốn, nguồn nhân công lao động và doanh thu sản phẩm. Doanh nghiệp vừa và nhỏ còn được biết đến với tên SME, SMEs hay SME là viết tắt của cụm từ Small and Medium Enterprise khi được dịch sang tiếng Việt cụm từ này có nghĩa là Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tại Việt Nam, Chính Phủ quy định cụ thể khái niệm DNVVN trong các Nghị định theo từng thời kỳ phát triển và ở đó các tiêu chí có thể thay đổi cho phù hợp. Cụ thể như trong Nghị định số 90/2001/NĐ-CP Ngày 23/1/2001 của Chính Phủ về “Trợ giúp phát triển DNVVN” cho biết “DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hằng năm không quá 300 người”.
Trên phương diện quản lý của Nhà nước, định nghĩa này mang tính pháp định nên có những ràng buộc khá chặt chẽ Theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009, “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)” 4 Theo Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 được ban hành ngày 12/6/2017 thì doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh theo quy định của Luật này. Do đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) có tất cả các đặc điểm của một doanh nghiệp, chẳng hạn như có tài sản riêng, có văn phòng giao dịch hợp pháp, và được thành lập theo quy định của pháp luật. Trong nghị định mới nhất - Nghị định 80/2021/NĐ–CP ban hành ngày 26/8/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật của hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, các tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ được quy định tại điều 5, cụ thể như sau: Bảng 1.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Khu vực Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Số lao Tổng nguồn Số lao Tổng nguồn Số lao Tổng nguồn động vốn hoặc tổng động vốn hoặc tổng động vốn hoặc tổng tham doanh thu (tỷ tham doanh thu (tỷ tham doanh thu (tỷ gia đồng) gia đồng) gia đồng) BHXH BHXH BHXH bình bình bình quân Tổng Tổng quân Tổng Tổng quân Tổng Tổng (người) NV DT (người NV DT (người NV DT I. Nông, ≤ 10 ≤3 ≤3 ≤ 100 ≤ 20 ≤ 50 ≤ 200 ≤ 100 ≤ 200 lâm nghiệp và thủy sản II.
Công ≤ 10 ≤3 ≤3 ≤ 100 ≤ 20 ≤ 50 ≤ 200 ≤ 100 ≤ 200 nghiệp và xây dựng III. ≤ 10 ≤3 ≤ 10 ≤ 50 ≤ 50 ≤ 100 ≤ 100 ≤ 100 ≤ 300 Thương mại và dịch vụ (Nguồn: Chính phủ, Nghị Định số 80/2021/ NĐ –CP) 5 1. Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ Theo nhận định của một số quốc gia, với góc nhìn khái quát DNNVV có một số đặc điểm phổ biến như dưới đây: Thứ nhất, DNVVN có quy mô vốn hạn chế, đa phần là vốn tự có và khả năng tiếp cận vốn tín dụng thấp Để bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, DNNVV chỉ cần một lượng vốn đầu tư ban đầu không lớn, diện tích mặt bằng nhỏ hoặc có thể tận dụng chính nhà cửa của chủ sở hữu,. Điều này tạo cho DNNVV lợi thế hơn so với doanh nghiệp lớn như thành lập và gia nhập thị trường dễ dàng, vốn đầu tư được thu hồi nhanh do lĩnh vực DNNVV tham gia có chu kỳ sản xuất ngắn, không đòi hỏi đầu tư Nhưng do hạn chế về quy mô vốn nên DNNVV có những bất lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh và trong việc tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng trang thiết bị công nghệ nhiều,.
Với số vốn đầu tư ban đầu hạn chế, trong khi nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh, yêu cầu đổi mới nâng cấp thiết bị, đầu tư công nghệ mới ngày càng tăng dẫn đến việc DNNVV dễ lâm vào tình trạng thiếu vốn, trong khi đó việc tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng thường gặp phải rất nhiều khó khăn DNNVV không đủ tài sản thế chấp khi vay vốn, và khả năng lập hồ sơ vay vốn, kế hoạch sản xuất kinh doanh của DNNVV lại hạn chế,. Thứ hai, DNNVV có lĩnh vực đầu tư sản xuất kinh doanh đa dạng Những lợi thế của DNNVV như quy mô, tiềm lực tài chính nhỏ, linh hoạt trong kinh doanh, dễ thành lập, dễ ra nhập thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh,. đã tạo điều kiện cho các DNNVV hoạt động dưới nhiều loại hình doanh nghiệp, trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Nhờ quy mô vốn đầu tư nhỏ, khai thác tốt nguồn lao động và nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương, nắm bắt và đáp ứng nhanh chóng được những thay đổi của thị trường nên DNNVV ngày càng đóng vai trò quan trọng trong ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy và phát triển kinh tế của địa phương và đất nước.
Thứ ba, DNNVV có số lượng lao động hạn chế, lao động có trình độ và tay nghề cao không nhiều DNNVV sử dụng số lao động hạn chế, lao động thường có trình độ tay nghề không cao, chủ yếu là lao động phổ thông. Do hạn chế về nguồn tài chính, môi trường làm việc cũng như chế độ đãi ngộ nên DNNVV khó tuyển dụng được lao động có 6 trình độ và tay nghề cao. Người lao động được đào tạo ở DNNVV chiếm một tỷ lệ không lớn. Ngoài ra, cơ hội thăng tiến cũng như tính ổn định và chế độ phúc lợi thấp khi làm việc ở DNNVV đã không đủ sức thu hút đối với những lao động có trình độ chuyên môn, năng lực và tay nghề cao.
Thực tế này dẫn đến tình trạng DNNVV gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong quản trị tài chính và xây dựng, quản lý, thực hiện các dự án đầu tư/phương án sản xuất kinh doanh. Thứ tư, các DNNVV có khả năng phát huy tiềm lực trong nước. Một ưu thế của DNNVV là nắm bắt được các điều kiện cụ thể của đất nước về tài nguyên và lao động, phát huy tiềm lực trong nước cho sản xuất kinh doanh. Trong khi các doanh nghiệp lớn thì việc sử dụng nguyên liệu sẵn có thường gặp nhiều khó khăn do trữ lượng thấp và không đủ để đảm bảo cho sản xuất quy mô lớn.
Thêm vào đó, sự phát triển các DNNVV ở giai đoạn ban đầu là cách tốt nhất để làm ra hàng hóa thay thế hàng hóa nhập khẩu. Bằng quy mô và trình độ kỹ thuật của các DNNVV, có thể sản xuất ra lượng hàng hóa phù hợp sức mua của xã hội và có thể thay thế được nhập khẩu, góp phần ổn định đời sống người dân, phát triển kinh tế xã hội bền vững. Thứ năm, DNNVV có khả năng tiếp cận thị trường thấp, gặp nhiều khó khăn khi hội nhập quốc tế DNNVV thường không dành kinh phí lớn cho hoạt động marketing nên việc xây dựng và định vị thương hiệu trên thị trường còn nhiều hạn chế, khó vươn ra thị trường quốc tế. Thị phần của DNNVV không lớn, khả năng chi phối thị trường không cao.
Thị trường thường phản ứng ít quyết liệt, thậm chí không có phản ứng trước những thay đổi chiến lược kinh doanh của DNNVV. Tại Việt Nam, ngoài những đặc điểm phổ biến như trên, còn tồn tại những đặc điểm sau đây: Các DNNVV tại Việt Nam thường sử dụng công nghệ lạc hậu, dẫn đến năng suất lao động thấp và khả năng cạnh tranh yếu. Trong khi đó, các DNNVV ở các nước phát triển chú trọng đầu tư vào trang thiết bị hiện đại, giúp họ nâng cao năng suất lao động và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Một số DNNVV tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế trong việc nhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế và trách nhiệm xã hội.
Họ chưa có ý thức đầy đủ về hội nhập 7 kinh tế quốc tế, chưa hiểu rõ về luật chơi chung của thị trường quốc tế, dẫn đến việc gặp nhiều khó khăn khi tham gia vào thị trường này. Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại một số DNNVV chỉ tập trung vào mục tiêu lợi nhuận trước mắt mà chưa quan tâm đến trách nhiệm xã hội. Họ có xu hướng sản xuất hàng nhái, hàng giả, kém chất lượng, vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, và không chú trọng đến việc bảo vệ môi trường. DNNVV Việt Nam chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực như chế biến nông - lâm -thủy hải sản, gia công quần áo, giày dép, linh kiện và các thiết bị điện tử cho các doanh nghiệp lớn trong nước và nước ngoài 1.
Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế DNNVV mang một vai trò trọng yếu trong việc thúc đẩy và ổn định sự phát triển kinh tế từ những hoạt động sản xuất và cung ứng dịch vụ cho xã hội. Các doanh nghiệp này đem lại nhiều việc làm cho người lao động, đáp ứng lượng hàng hóa và dịch vụ ở nhiều lĩnh vực, góp một phần không nhỏ trong GDP quốc gia. Ngoài ra, các doanh nghiệp trên cũng góp phần trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, giảm tỷ lệ giàu nghèo, ổn định an sinh xã hội. Trong những năm gần đây, môi trường kinh doanh của Việt Nam đã có những thay đổi hết sức căn bản tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển.