CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm về DNVVN Mặc dù nhiều người đồng ý rằng các DNVVN có quy mô và tầm quan trọng đáng kể, định nghĩa về thị trường này vẫn còn khác nhau rất nhiều trên toàn thế giới. Doanh nghiệp là những tổ chức kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân hoạt động SXKD trên thị trường vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa giá trị doanh nghiệp và không ngừng phát triển.
Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của DNVVN hiện nay có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Vì vậy việc đưa ra một khái niệm chuẩn xác về DNVVN có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu, hỗ trợ và phát triển DNVVN. Doanh nghiệp vừa và nhỏ được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới: “Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ”.
Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình. Ở Việt Nam, theo Điều 6, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ, quy định: 4 Bảng 1: Phân loại DNVVN DN Doanh nghiệp Doanh nghiệp Doanh nghiệp siêu nhỏ vừa lớn nhỏ Lao Vốn Lao Vốn Lao Vốn Lao động động động động I.Khu vực nông, ≤10 ≤20 Trên Trên Trên Trên Trên lâm nghiệp và tỷ 10 đến 20 tỷ 200 100 tỷ 300 thủy sản 200 đến đến 100 tỷ 300 II.Khu vực công ≤10 ≤20 Trên Trên Trên Trên Trên nghiệp và xây tỷ 10 đến 20 tỷ 200 100 tỷ 300 dựng 200 tỷ đến đến 100 tỷ 300 III.Khu vực dịch ≤10 ≤10 Trên Trên Trên Trên Trên vụ tỷ 10 đến 10 tỷ 50 đến 50 tỷ 100 50 đến 50 100 tỷ 5 1. Đặc điểm của DNVVN Tuy mỗi quốc gia có một khái niệm về DNVVN khác nhau nhưng hầu hết các DNVVN đều mang những đặc điểm chung. Theo Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Việt Nam thì: - DNVVN có quy mô nhỏ về vốn đầu tư và số lượng lao động - Mô hình tổ chức của DNVVN đơn giản, nguồn nhân lực trình độ chưa cao - DNVVN có khả năng cạnh tranh thấp - DNVVN chịu nhiều ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài - DNVVN rất linh hoạt, nhạy cảm và dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường.
Vai trò của DNVVN đối với nền kinh tế - Các DNVVN đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế - Các DNVVN giải quyết một số lượng lớn chỗ làm việc cho dân cư, làm tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo - Các DNVVN góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường - Góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển địch cơ cấu kinh tế, đặc biệt với khu vực nông thôn - Các DNVVN là nơi ươm mầm các tài năng kinh doanh, là nơi đào tạo, rèn luyện các nhà doanh nghiệp, giúp họ làm quen với môi trường kinh doanh 6 2. Những vấn đề lý luận chung về Hoạt động tín dụng và Chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM 2. Hoạt động tín dụng NHTM 2. Khái niệm về Hoạt động tín dụng NHTM Căn cứ Luật các TCTD 2010, “Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa Ngân hàng (TCTD) với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó Ngân hàng (TCTD) chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho Ngân hàng (TCTD) khi đến hạn thanh toán.
Đặc trưng về Hoạt động tín dụng NHTM Với nền kinh tế hàng hóa hiện nay, tín dụng tồn tại trên cơ sở mối quan hệ về thanh toán gắn liền với sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên, tùy thuộc vào loại hình kinh tế mà nhu cầu về vốn cũng khác nhau. Từ đó dẫn đến sẽ có sự thiếu và thừa vốn tạm thời của các chủ thể. Hiện nay, các doanh nghiệp ở Việt Nam chủ yếu là DNVVN (Theo số liệu Tổng điều tra của Tổng cục Thống kê) và có hơn 60% doanh nghiệp thiếu vốn sản xuất kinh doanh cũng như mở rộng hoạt động để cạnh tranh và đứng vững trên thị trường.
Tuy nhiên, nguồn cung ứng từ các nhà đầu tư cũng như dân cư còn hạn chế. Từ thực tế này, NHTM với vai trò là người trung gian sẽ tìm mọi cách huy động nguồn vốn nhàn rỗi để cấp tín dụng cho người có nhu cầu trên cơ sở “Vay – Hoàn trả” - Thứ nhất, là sự tín nhiệm: Tín dụng thực chất là sự cung cấp một lượng giá trị trên cơ sở lòng tin. Người cho vay luôn tin tưởng người đi vay sẽ sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả, có khả năng trả nợ và thiện chí trả nợ cho ngân hàng trong tương lai khi hợp đồng tín dụng đến hạn. - Thứ hai, là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng tài sản của ngân hàng cho người đi vay, trong một thời gian nhất định với cam kết hoàn trả cả gốc và lãi.
7 - Thứ ba, là tính hoàn trả Sau một thời gian như đã thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay một lượng giá trị gồm cả gốc và lãi. Phần chênh lệch này là giá của việc sử dụng quyền sử dụng vốn của người khác. Do vậy, nó phải đủ lớn để đem lại sự hấp dẫn cho người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn. - Hoạt động của tín dụng luôn chứa đựng sự rủi ro.
Đó là sự mất cân xứng về thông tin của khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng. Rủi ro đó ngoài những nguyên nhân chủ quan xuất phát từ phía ngân hàng và khách hàng, còn có những nguyên nhân khách quan như: sự biến động của thị trường, chu kỳ kinh tế, sự thay đổi của chính sách, những nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, dịch họa… 2. Phân loại về Hoạt động tín dụng NHTM Căn cứ vào thời hạn tín dụng Đây là tiêu thức mà các ngân hàng thường xuyên sử dụng nhất. Thời hạn cho cấp tín dụng là thời hạn được xác định từ khi ngân hàng bỏ tiền ra cho đến khi thu hồi hết vốn.
Căn cứ theo tiêu thức này, tín dụng được chia làm 3 loại: - Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn nhỏ hơn hoặc bằng 12 tháng. Loại tín dụng này thường được sử dụng để bổ sung vốn lưu động thiếu hụt tạm thời của các doanh nghiệp và cấp tín dụng phục vụ nhu cầu tiêu dùng ngắn hạn của cá nhân và hộ gia đình. - Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 12 đến 60 tháng. Hình thức trung hạn thường được sử dụng cho đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng. Hình thức tín dụng này thường sử dụng vốn tín dụng vào mục đích chủ yếu là đầu tư hình thành mới tài sản cố định và thời hạn thu hồi vốn dài. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay 8 Dựa vào tiêu thức này, tín dụng được chia thành các loại sau: - Tín dụng sản xuất và kinh doanh hàng hóa: Đây là hình thức tín dụng cấp cho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác để tiến hành sản xuất và kinh doanh hàng hóa. - Tín dụng tiêu dùng: Đây là hình thức cấp tín dụng nhằm giải quyết những nhu cầu vốn phục vụ cho tiêu dùng của khách hàng là các hộ gia đình và cá nhân.
Căn cứ vào mức độ đảm bảo Căn cứ vào tiêu thức này, tín dụng được chia làm hai loại: - Tín dụng có bảo đảm: Là loại tín dụng dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp, cầm cố, hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba. Ngân hàng nắm giữ tài sản của người vay để xử lý thu hồi nợ khi người vay không thực hiện được các nghĩa vụ đã được cam kết trong hợp đồng tín dụng. Hình thức này được áp dụng đối với những khách hàng không có uy tín cao. Mặc dù là có tài sản đảm bảo nhưng hình thức tín dụng này vẫn có đội rủi ro cao vì tài sản có thể bị mất giá hay người bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ của mình.
- Tín dụng không có bảo đảm: Là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc không có sự bảo lãnh của người thứ ba. Việc cấp tín dụng chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Muốn vậy, ngân hàng phải đánh giá hiệu quả sử dụng tiền vay của người vay, khách hàng không được phép giao dịch với bất kỳ ngân hàng nào khác. Mặc dù không có tài sản đảm bảo những đây là một loại tín dụng ít rủi ro cho ngân hàng vì khách hàng có uy tín rất lớn và khả năng trả nợ rất cao thì mới được cấp tín dụng mà không cần đảm bảo.
Căn cứ vào phương pháp hoàn trả - Tín dụng trả góp: Là hình thức tín dụng đòi hỏi việc hoàn trả theo định kỳ. Tín dụng trả góp được thực hiện theo nguyên tắc trả dần trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng. - Tín dụng phi trả góp: Là hình thức tín dụng trả một lần, nghĩa là hợp đồng yêu cầu hoàn trả toàn bộ một lần vào thời gian đáo hạn cuối cùng. 9 - Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: Là hình thức tín dụng mà người vay có thể hoàn trả bất cứ lúc nào khi có thu nhập.
Căn cứ vào nguồn gốc tín dụng - Tín dụng trực tiếp: Là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng thực hiện việc cấp tín dụng cho người vay và người vay trực tiếp thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. - Tín dụng gián tiếp: Là hình thức tín dụng ngân hàng thực hiện việc cấp tín dụng cho khách hàng thông qua việc mua lại các khế ước, chứng từ nợ từ khách hàng.