Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Năm 2007 đánh dấu bước chuyển biến quan trọng của ngành xuất khẩu gạo Việt Nam khi chất lượng và đơn giá xuất khẩu bình quân tăng cao, dần tiệm cận với mặt bằng giá gạo của Thái Lan. Trong cơ cấu nguồn cung lúa gạo cả nước, tỉnh An Giang giữ vị trí đầu tàu khi sản lượng thu hoạch tiếp tục vượt ngưỡng 3 triệu tấn, đóng góp lớn vào vị thế nước xuất khẩu gạo thứ hai thế giới của Việt Nam. Bước sang năm 2008, thị trường lương thực toàn cầu đối mặt với nhiều biến động lớn khi giá gạo được dự báo tăng khoảng 20% do Thái Lan chủ động cắt giảm chỉ tiêu xuất khẩu từ 9,4 triệu tấn năm 2007 xuống 8,7 triệu tấn năm 2008; nguồn cung từ các quốc gia xuất khẩu lớn khác như Ấn Độ và Pakistan bị thu hẹp, trong khi nhu cầu tiêu thụ từ Trung Quốc, Bangladesh, các nước Trung Đông và Châu Phi gia tăng đáng kể. Bối cảnh này mang lại cơ hội mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo trong nước.
Tuy nhiên, giá trị gia tăng thu về từ hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam nói chung và khu vực An Giang nói riêng chưa tương xứng với tiềm năng thực tế. Phần lớn sản phẩm gạo xuất khẩu chưa xây dựng được thương hiệu độc lập trên thị trường quốc tế, chất lượng qua các lô hàng chưa đạt mức ổn định cao, và nghiệp vụ ngoại thương của các doanh nghiệp còn nhiều mặt hạn chế, đặc biệt là khâu tiếp thị và kiểm soát chuỗi cung ứng đầu ra. Tại Công ty Cổ phần Du lịch An Giang (An Giang Tourimex), hoạt động xuất khẩu gạo là mảng kinh doanh mang lại doanh thu và lợi nhuận chủ lực, nhưng năng lực thực hiện các nghiệp vụ ngoại thương của đội ngũ nhân sự vẫn tồn tại những rào cản nhất định, khiến giá trị kim ngạch chưa đạt mức tối ưu.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm hai nội dung:
- Phân tích thực trạng thực hiện nghiệp vụ xuất khẩu gạo của Công ty Cổ phần Du lịch An Giang trong giai đoạn 2005 - 2007, bao gồm phương thức nghiên cứu thị trường, tiếp thị xuất khẩu, kỹ thuật đàm phán và giao kết hợp đồng, lựa chọn điều kiện giao hàng, phương thức thanh toán quốc tế và thiết lập bộ chứng từ ngoại thương.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại thương và hoàn thiện kỹ năng marketing xuất khẩu cho mặt hàng gạo của công ty.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng hoạt động kinh doanh xuất khẩu và các nghiệp vụ ngoại thương liên quan đến mặt hàng gạo của Công ty Cổ phần Du lịch An Giang.
- Phạm vi không gian: Tập trung tại Công ty Cổ phần Du lịch An Giang, đi sâu vào các thị trường nhập khẩu chủ lực (khu vực Đông Nam Á, Trung Đông, Châu Âu) và các nhóm khách hàng trọng điểm.
- Phạm vi thời gian: Số liệu về sản lượng, kim ngạch xuất khẩu, cơ cấu thị trường, chủng loại gạo và các hợp đồng ngoại thương được thu thập và phân tích trong giai đoạn 3 năm, từ năm 2005 đến năm 2007.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận chuyên ngành kinh tế đối ngoại và quản trị ngoại thương làm nền tảng phân tích:
- Khung lý thuyết xuất khẩu và thẩm định tiềm năng xuất khẩu: Tác giả hệ thống hóa các khái niệm về xuất khẩu hàng hóa và mô hình đánh giá tiềm năng xuất khẩu của doanh nghiệp dựa trên hai nhóm nhân tố: nhân tố nội tại (năng lực chế biến, năng lực quản trị - tổ chức, nguồn lực tài chính, kiến thức kỹ thuật, bí quyết marketing, kinh nghiệm thương trường, định hướng ưu tiên quản trị và mức độ sẵn sàng của sản phẩm) và nhân tố ngoại tại (lợi thế so sánh quốc gia về tài nguyên - địa lý - khí hậu, chính sách hỗ trợ phát triển ngành hàng lúa gạo của Chính phủ, và biến động tỷ giá hối đoái).
- Tiếp thị và xúc tiến thương mại quốc tế: Sử dụng các mô hình đánh giá mức độ hấp dẫn của thị trường, hàng rào thuế quan, hạn ngạch, rào cản kỹ thuật - an toàn thực phẩm; cấu trúc kênh phân phối xuất khẩu trực tiếp và gián tiếp; các công cụ truyền thông marketing xuất khẩu như bán hàng cá nhân, thư tín trực tiếp, hội chợ triển lãm và phương tiện truyền thông đại chúng.
- Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương: Lý thuyết về quy trình đàm phán hợp đồng thương mại quốc tế; cấu trúc các điều khoản chuẩn mực trong hợp đồng mua bán ngoại thương; Bộ quy tắc thương mại quốc tế Incoterms 2000 do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) ban hành với 13 điều kiện giao hàng (tập trung phân tích các điều kiện thông dụng như FOB, CIF, CFR); hệ thống 7 phương thức thanh toán quốc tế (tiền mặt, ghi sổ, buôn bán đối lưu, nhờ thu trơn/kèm chứng từ, chuyển tiền T/T, CAD, và tín dụng chứng từ L/C); quy chuẩn lập bộ chứng từ cơ bản trong giao dịch xuất nhập khẩu (hóa đơn thương mại, vận đơn đường biển B/L, chứng thư bảo hiểm, C/O, C/Q, C/W, chứng thư kiểm dịch và phiếu đóng gói).
Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm:
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu định kỳ giai đoạn 2005 - 2007 của Công ty Cổ phần Du lịch An Giang; các niên giám thống kê, tạp chí thương mại chuyên ngành; ấn phẩm "Báo cáo thường niên: Ngành hàng lúa gạo Việt Nam 2007 và triển vọng 2008" của Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn; cùng các hệ thống văn bản pháp lý liên quan.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua quan sát thực tế trong thời gian thực tập hơn 3 tháng tại Phòng Kinh doanh Xuất nhập khẩu của công ty và tiến hành phỏng vấn trực tiếp Trưởng phòng Kinh doanh Xuất nhập khẩu nhằm đối soát thực tiễn triển khai hợp đồng và tham vấn tính khả thi của các giải pháp đề xuất.
- Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu: Sử dụng kỹ thuật thống kê mô tả, tổng hợp bảng số liệu, phân tích so sánh chuỗi thời gian (tuyệt đối và tương đối) nhằm chỉ rõ xu hướng dịch chuyển của sản lượng, kim ngạch và cơ cấu thị trường; vận dụng mô hình phân tích chuỗi kênh tiếp thị và ma trận SWOT để làm rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong hoạt động xuất khẩu gạo của doanh nghiệp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Mở đầu
Chương này giới thiệu tổng quan về bối cảnh thị trường lúa gạo toàn cầu và vị thế của nguồn cung lúa gạo tỉnh An Giang trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2007. Tác giả luận giải tính cấp thiết của việc hoàn thiện nghiệp vụ ngoại thương tại doanh nghiệp xuất khẩu; xác định rõ 2 mục tiêu nghiên cứu; giới hạn phạm vi nghiên cứu về mặt hàng (tập trung vào sản phẩm gạo), thời gian khảo sát (2005 - 2007) và các đối tác thương mại tiêu biểu; đồng thời trình bày phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp - thứ cấp cùng ý nghĩa ứng dụng thực tiễn của đề tài đối với công tác điều hành tại công ty.
Chương 2: Cơ sở lý luận
Chương 2 thiết lập khung lý thuyết toàn diện về hoạt động xuất khẩu hàng hóa và quản trị nghiệp vụ ngoại thương. Nội dung tập trung làm rõ:
- Các bước đánh giá thị trường mục tiêu, thẩm định mức độ sẵn sàng về tổ chức và hàng hóa của doanh nghiệp xuất khẩu.
- Cấu trúc hệ thống kênh tiếp thị xuất khẩu (khách hàng trực tiếp gồm nhà phân phối, nhà nhập khẩu, cơ quan nhà nước; khách hàng gián tiếp) và các phương tiện truyền thông xúc tiến bán hàng quốc tế.
- Bản chất và kỹ thuật đàm phán hợp đồng ngoại thương thông qua các phương thức tiếp xúc trực tiếp, thư tín, điện tín, điện thoại.
- Nội dung pháp lý và cơ cấu các điều khoản cơ bản của một hợp đồng xuất khẩu (tên hàng, phẩm chất, số lượng, giao hàng, giá cả, thanh toán, bao bì, bảo hiểm, bất khả kháng, khiếu nại, trọng tài).
- Giới thiệu 13 điều kiện thương mại theo Incoterms 2000, nguyên tắc vận hành của các phương thức thanh toán quốc tế (đặc biệt là phương thức tín dụng chứng từ L/C và nhờ thu) cùng quy cách lập các chứng từ hàng hóa, vận tải, bảo hiểm và pháp lý.
Chương 3: Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Du lịch An Giang
Chương này phác thảo quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Du lịch An Giang (An Giang Tourimex), tiền thân là Công ty Du lịch An Giang được thành lập theo Quyết định số 512/QĐ.UB ngày 16/08/1978 của UBND tỉnh An Giang với quy mô ban đầu 40 lao động. Trải qua các đợt sáp nhập với Công ty Khách sạn Ăn uống (năm 1986) và Công ty Thương mại Đầu tư và Phát triển Miền núi An Giang theo Quyết định số 498/QĐ.UB (ngày 15/11/1995), công ty đổi tên thành Công ty Du lịch và Phát triển Miền Núi An Giang vào ngày 16/01/1996, sau đó cổ phần hóa và chuyển đổi cấu trúc bộ máy quản lý. Cơ cấu hoạt động của công ty tập trung vào hai mảng mũi nhọn: kinh doanh dịch vụ du lịch (lữ hành, lưu trú, nhà hàng) và kinh doanh thương mại, trong đó hoạt động thu mua, chế biến và xuất khẩu gạo đóng vai trò là nguồn thu ngoại tệ chủ lực.
Chương 4: Thực trạng hoạt động xuất khẩu gạo của Công ty Cổ phần Du lịch An Giang
Chương 4 là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh chi tiết các dữ liệu kinh doanh và đánh giá nghiệp vụ ngoại thương của công ty giai đoạn 2005 - 2007:
Thực trạng sản lượng và kim ngạch xuất khẩu:
Hoạt động xuất khẩu gạo của công ty qua 3 năm có sự biến động do tác động của thời tiết, dịch bệnh cây trồng và chính sách quản lý an ninh lương thực của Nhà nước.
| Năm |
Sản lượng (tấn) |
Kim ngạch (USD) |
Biến động sản lượng so với năm trước (%) |
Biến động kim ngạch so với năm trước (%) |
| 2005 |
156.460 |
39.279.299 |
- |
- |
| 2006 |
135.611 |
35.078.210 |
-13,33% |
-10,70% |
| 2007 |
140.606 |
40.741.343 |
+3,68% |
+16,14% |
Năm 2005 ghi nhận sản lượng xuất khẩu cao nhất (156.460 tấn). Năm 2006, sản lượng giảm 20.849 tấn do dịch rầy nâu, vàng lùn xoắn lá làm giảm sản lượng lúa thu hoạch kết hợp với chủ trương tạm dừng xuất khẩu của Chính phủ. Đến năm 2007, sản lượng tăng nhẹ lên 140.606 tấn nhưng kim ngạch đạt mức cao kỷ lục (trên 40,74 triệu USD), cho thấy đơn giá xuất khẩu bình quân của công ty đã tăng đáng kể theo xu thế thị trường thế giới.
Cơ cấu chủng loại gạo xuất khẩu:
Công ty cung cấp các dòng sản phẩm: gạo Jasmine, gạo 5% tấm, 10% tấm, 15% tấm, 25% tấm và 100% tấm. Trong đó, gạo 25% tấm là mặt hàng xuất khẩu cốt lõi, thường xuyên chiếm trên 65% tổng kim ngạch hàng năm nhờ công ty là đầu mối cung cấp gạo định kỳ cho Cơ quan Lương thực Quốc gia Philippines (NFA) theo phương thức đấu thầu. Gạo thơm cấp cao Jasmine có tốc độ tăng trưởng tỷ trọng nhanh nhất qua các năm do người tiêu dùng quốc tế ngày càng quan tâm đến chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngược lại, chủng loại gạo 10% tấm có tỷ trọng sụt giảm mạnh nhất do chịu áp lực cạnh tranh kép từ cả phân khúc gạo cấp cao lẫn phân khúc gạo giá rẻ.
Cơ cấu thị trường xuất khẩu:
Thị trường xuất khẩu của công ty trải rộng nhưng tập trung lớn nhất tại Châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á (Philippines, Indonesia, Malaysia, Singapore) và khu vực Trung Đông (Ả Rập Saudi, Israel, Iran). Thị trường Philippines duy trì vị trí nhập khẩu khối lượng lớn nhất. Hai thị trường ghi nhận mức tăng trưởng tỷ trọng mạnh nhất giai đoạn 2005 - 2007 là Ả Rập Saudi và Israel nhờ nhu cầu tiêu thụ các dòng gạo chất lượng cao. Ngược lại, thị trường Iran sụt giảm mạnh do thị trường này dịch chuyển sang tiêu thụ dòng gạo Basmati của Ấn Độ. Thị trường Liên Bang Nga suy giảm do rào cản kỹ thuật vệ sinh dịch tễ, trong khi Hungary xuất hiện từ năm 2007 như một thị trường mới đầy triển vọng đối với gạo cao cấp.
Năng lực cơ sở vật chất phục vụ chế biến gạo xuất khẩu:
Để đảm bảo nguồn hàng, công ty đã đầu tư hệ thống hạ tầng đồng bộ:
- Diện tích nhà xưởng, xí nghiệp: 1.000 m2.
- Sức chứa hệ thống nhà kho: 18.000 tấn.
- Năng lực sấy lúa (2 máy sấy): 1.000 tấn/ngày.
- Công suất xưởng sản xuất bao bì: 7.000 bao/năm.
- Tổng công suất chế biến gạo của các nhà máy, xí nghiệp trực thuộc: 100.000 tấn/năm.
Đánh giá thực trạng thực hiện nghiệp vụ ngoại thương:
- Nghiên cứu thị trường: Công ty chủ yếu áp dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn thông qua Internet, báo chí thương mại và sách báo kinh tế. Mảng công việc này do 2 nhân sự phụ trách (1 nhân sự tìm kiếm thông tin, 1 nhân sự triển khai kế hoạch thực hiện hợp đồng). Phương pháp nghiên cứu tại chỗ chỉ được áp dụng hạn chế khi tiếp cận các thị trường đòi hỏi tiêu chuẩn khắt khe như Châu Âu, thông qua đoàn đàm phán gồm 5 thành viên (Trưởng phòng Kinh doanh Xuất nhập khẩu, chuyên gia luật, chuyên gia ngoại ngữ, chuyên gia thương lượng và thư ký).
- Kênh phân phối và truyền thông tiếp thị: Khách hàng trực tiếp chủ yếu là các nhà nhập khẩu lớn và các tổ chức mua sắm nhà nước (như NFA Philippines). Khách hàng gián tiếp là các thương nhân nước ngoài; khi bán qua kênh này, gạo của công ty phải mang nhãn hiệu của đối tác trung gian khiến thương hiệu công ty không tiếp cận được người tiêu dùng cuối cùng. Hoạt động quảng bá dựa chủ yếu vào thư tín và website công ty, doanh nghiệp chưa thành lập phòng marketing chuyên biệt.
- Đàm phán và soạn thảo hợp đồng: Hình thức giao dịch chủ yếu diễn ra qua thư tín, fax và email; rất ít khi tiến hành đàm phán mặt đối mặt.
- Điều kiện giao hàng và bảo hiểm: 100% các hợp đồng xuất khẩu gạo của công ty đều thực hiện theo điều kiện FOB (Incoterms 2000). Công ty hoàn toàn chưa thực hiện xuất khẩu theo điều kiện CIF do tâm lý e ngại rủi ro vận tải đường biển, thiếu thông tin về giá cước tàu container và phí bảo hiểm hàng hải quốc tế.
- Phương thức thanh toán và chứng từ: Chủ yếu sử dụng phương thức tín dụng chứng từ (L/C) và ủy thác nhờ thu. Bộ chứng từ thanh toán được thiết lập đầy đủ theo thông lệ quốc tế gồm hóa đơn thương mại, vận đơn đường biển B/L, phiếu đóng gói bao bì, giấy chứng nhận xuất xứ (C/O do VCCI cấp), giấy chứng nhận số lượng/trọng lượng, và giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật.
Phân tích ma trận SWOT của công ty:
- Điểm mạnh (S): Nguồn cung nguyên liệu lúa dồi dào tại An Giang; hệ thống nhà máy chế biến đạt công suất 100.000 tấn/năm; nguồn tài chính vững chắc từ cổ đông; thương hiệu công ty được khẳng định qua các giải thưởng uy tín của Bộ Thương mại (2000 - 2007) và UBND tỉnh An Giang; có kinh nghiệm trúng thầu cung cấp gạo cho NFA Philippines.
- Điểm yếu (W): Chưa có phòng marketing độc lập; nghiên cứu thị trường thực địa còn yếu; chưa xây dựng được hệ thống kênh phân phối độc lập ở nước ngoài; phụ thuộc vào xuất khẩu trung gian mang nhãn hiệu khác; hoàn toàn xuất khẩu theo giá FOB, không khai thác được dịch vụ vận tải và bảo hiểm; trình độ ngoại ngữ và kỹ năng ngoại thương của một bộ phận nhân sự còn hạn chế.
- Cơ hội (O): Nhu cầu lương thực thế giới tăng cao; giá gạo thế giới bước vào chu kỳ tăng trưởng mạnh trong năm 2008; chính sách phát triển lúa gạo của Nhà nước hỗ trợ thông qua dự án vùng lúa chất lượng cao 4.400 tỷ đồng (giai đoạn 2007 - 2012) áp dụng tiêu chuẩn GAP; hiệp định thương mại ưu đãi thuế suất nhập khẩu lúa 0% từ Campuchia theo Văn bản 1857/TTg-NN ngày 13/11/2006.
- Thách thức (T): Cạnh tranh gay gắt từ các cường quốc xuất khẩu gạo như Thái Lan và Ấn Độ (đặc biệt dòng gạo Basmati tại thị trường Trung Đông); các rào cản kỹ thuật khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các thị trường nhập khẩu (như thị trường Nga, Châu Âu); rủi ro biến đổi khí hậu, dịch bệnh cây trồng ảnh hưởng đến nguồn cung lúa nguyên liệu.
Chương 5: Giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu gạo cho Công ty Cổ phần Du lịch An Giang
Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và ma trận SWOT, tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp:
- Nhóm giải pháp marketing xuất khẩu:
- Thành lập phòng marketing chuyên biệt nhằm chủ động nghiên cứu thị trường, phân tích xu hướng tiêu dùng và thị hiếu ẩm thực tại các khu vực mục tiêu.
- Chiến lược thâm nhập và mở rộng thị trường: Duy trì và củng cố các thị trường truyền thống (Philippines, Malaysia); đẩy mạnh xuất khẩu dòng gạo thơm cao cấp Jasmine sang các thị trường có khả năng chi trả cao như Ả Rập Saudi, Israel và Hungary; tìm kiếm các biện pháp vượt qua rào cản kiểm dịch để tái thâm nhập thị trường Liên Bang Nga.
- Xây dựng và quảng bá thương hiệu: Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu gạo của công ty tại các thị trường trọng điểm; giảm dần tỷ lệ bán hàng qua trung gian mang nhãn hiệu của đối tác; tích cực tham gia các hội chợ nông sản quốc tế, phát hành tài liệu chào hàng chuyên nghiệp và nâng cấp website phục vụ thương mại điện tử.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ ngoại thương:
- Chuyển dịch phương thức giao hàng: Từng bước chuyển đổi từ điều kiện giao hàng FOB sang chào hàng theo điều kiện CIF đối với các thị trường có tuyến vận tải ổn định nhằm nâng cao giá trị gia tăng, chủ động chỉ định tàu vận chuyển và kiểm soát chi phí bảo hiểm.
- Nâng cao nghiệp vụ đàm phán và thanh toán: Tăng cường hình thức đàm phán trực tiếp đối với các hợp đồng quy mô lớn; kết hợp linh hoạt các phương thức thanh toán L/C không hủy ngang, xác nhận hoặc nhờ thu kèm chứng từ (D/P) nhằm đảm bảo an toàn vốn lưu động.
- Đào tạo và phát triển nhân sự: Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn sâu về pháp luật thương mại quốc tế, quy tắc Incoterms, nghiệp vụ logistics hàng hải và kỹ năng ngoại ngữ chuyên ngành cho cán bộ Phòng Kinh doanh Xuất nhập khẩu.
Chương 6: Kết luận và kiến nghị
Chương cuối tóm lược các kết quả nghiên cứu chính và đưa ra các kiến nghị:
- Đối với Nhà nước: Kiến nghị Chính phủ và các bộ ngành tiếp tục đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án vùng nguyên liệu lúa chất lượng cao theo tiêu chuẩn GAP tại đồng bằng sông Cửu Long; duy trì chính sách thuế ưu đãi đối với lúa nhập khẩu từ Campuchia; hỗ trợ doanh nghiệp thông tin cảnh báo sớm về các rào cản kỹ thuật vệ sinh an toàn thực phẩm của các nước nhập khẩu; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi trong thủ tục hải quan và cung cấp tín dụng xuất khẩu.
- Đối với Công ty Cổ phần Du lịch An Giang: Kiến nghị Ban giám đốc nhanh chóng kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy kinh doanh quốc tế, đầu tư ngân sách thích đáng cho công tác khảo sát thị trường thực địa, chú trọng đăng ký chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng và xây dựng nhãn hiệu gạo xuất khẩu độc lập.
Kết quả và đóng góp của khóa luận
- Kết quả nghiên cứu cụ thể:
- Khóa luận đã hệ thống hóa đầy đủ số liệu xuất khẩu gạo của Công ty Cổ phần Du lịch An Giang giai đoạn 2005 - 2007: Sản lượng năm 2005 đạt 156.460 tấn (kim ngạch 39,28 triệu USD); năm 2006 đạt 135.611 tấn (kim ngạch 35,08 triệu USD); năm 2007 đạt 140.606 tấn (kim ngạch 40,74 triệu USD).
- Phân tích cơ cấu sản phẩm chỉ rõ gạo 25% tấm chiếm tỷ trọng áp đảo (>65% kim ngạch) nhờ vào kênh đấu thầu cung cấp cho NFA Philippines; dòng gạo Jasmine có sự gia tăng tỷ trọng nhanh nhất; trong khi gạo 10% tấm giảm mạnh nhất.
- Phân tích cơ cấu thị trường xác định Ả Rập Saudi và Israel là hai thị trường có tỷ trọng tăng trưởng cao nhất; Iran là thị trường có mức sụt giảm nghiêm trọng nhất; Hungary là thị trường mới giàu tiềm năng.
- Chỉ ra các hạn chế cố hữu trong nghiệp vụ ngoại thương của doanh nghiệp: 100% hợp đồng bán gạo xuất khẩu thực hiện theo điều kiện FOB, khiến công ty mất đi nguồn thu từ cước vận tải và hoa hồng bảo hiểm; việc nghiên cứu thị trường dựa chủ yếu vào 2 nhân sự làm việc tại bàn; phương thức phân phối qua trung gian làm triệt tiêu khả năng nhận diện thương hiệu công ty ở nước ngoài.
- Giải pháp đề xuất: Khóa luận đưa ra các giải pháp có tính định hướng thực tiễn cao như thành lập phòng marketing riêng biệt, lộ trình chuyển dịch điều kiện giao hàng từ FOB sang CIF, kế hoạch đăng ký chất lượng hàng Việt Nam chất lượng cao trong năm 2008 và đào tạo nhân sự chuyên trách nghiệp vụ ngoại thương.
- Đóng góp khoa học và thực tiễn: Khóa luận cung cấp bức tranh thực tế về sự vận hành nghiệp vụ xuất nhập khẩu nông sản tại một doanh nghiệp địa phương trong thời kỳ đầu Việt Nam gia nhập WTO; liên kết giữa lý luận quản trị ngoại thương (Incoterms, thanh toán quốc tế, nghiên cứu thị trường) với số liệu tác nghiệp thực tế; chỉ ra nguyên nhân cốt lõi khiến giá trị gia tăng hạt gạo xuất khẩu của doanh nghiệp chưa cao.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu:
- Do hạn chế về thời gian thực tập và tính bảo mật thông tin kinh doanh của doanh nghiệp, khóa luận chưa thể khảo sát toàn diện mọi thị trường và đối tác, mà chỉ tập trung vào một số thị trường trọng điểm và các khách hàng lớn tiêu biểu.
- Việc đánh giá điều khoản hợp đồng xuất khẩu mới chỉ dừng lại ở việc xem xét một số hợp đồng mẫu đại diện, chưa phân tích được toàn bộ các tranh chấp phát sinh trong thực tế giao nhận hàng hóa.
- Phạm vi số liệu dừng lại ở giai đoạn 2005 - 2007, chưa phản ánh được toàn diện tác động của cuộc khủng hoảng giá lương thực toàn cầu bùng nổ mạnh mẽ vào nửa cuối năm 2008.
- Nghiên cứu chưa xây dựng được mô hình định lượng chi tiết để tính toán phương án tài chính khi chuyển đổi từ điều kiện giao hàng FOB sang CIF đối với từng tuyến vận tải cụ thể.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các giai đoạn tiếp theo nhằm đánh giá khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước các cú sốc biến động giá lương thực thế giới.
- Nghiên cứu sâu về bài toán chi phí logistics hàng hải, liên kết với các công ty vận tải biển và bảo hiểm trong nước để thiết lập phương án chào bán giá CIF tối ưu cho từng cảng đến.
- Khảo sát chuyên sâu về thị hiếu tiêu dùng gạo đóng gói có thương hiệu tại các hệ thống bán lẻ hiện đại (siêu thị, đại siêu thị) ở thị trường Châu Âu và Trung Đông.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo:
- Khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực cho sinh viên các chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, Kinh doanh quốc tế, Thương mại và Quản trị kinh doanh khi nghiên cứu về nghiệp vụ ngoại thương mặt hàng nông sản.
- Cung cấp tư liệu thực tế cho các cán bộ quản lý, nhân viên tác nghiệp tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu gạo ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long muốn rà soát quy trình xuất khẩu, cải thiện phương thức giao hàng và mở rộng kênh phân phối.
- Nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Chương 4 là phần đáng tham khảo nhất nhờ hệ thống số liệu kinh doanh thực tế giai đoạn 2005 - 2007, các phân tích chi tiết về quy trình thu mua chế biến, thủ tục thanh toán L/C, cùng những đánh giá thẳng thắn về hạn chế của tập quán bán hàng theo giá FOB tại doanh nghiệp Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao mặt hàng gạo 25% tấm luôn chiếm tỷ trọng trên 65% tổng kim ngạch xuất khẩu của Công ty Cổ phần Du lịch An Giang trong giai đoạn 2005 - 2007?
Công ty là một trong những đơn vị xuất khẩu của Việt Nam tham gia và trúng thầu cung cấp gạo 25% tấm cho Cơ quan Lương thực Quốc gia Philippines (NFA). Do đó, sản lượng xuất khẩu của chủng loại này luôn đạt khối lượng lớn, ổn định qua các đợt giao hàng định kỳ và mang lại nguồn doanh thu chủ chốt cho doanh nghiệp.
2. Nguyên nhân nào khiến công ty chỉ xuất khẩu gạo theo điều kiện FOB mà chưa thực hiện theo điều kiện CIF?
Tình trạng này xuất phát từ tâm lý cán bộ nghiệp vụ muốn chuyển giao rủi ro nhanh chóng ngay khi hàng qua lan can tàu tại cảng bốc hàng để hết trách nhiệm; doanh nghiệp thiếu thông tin cập nhật về giá cước tàu biển, cước container và tỷ lệ phí mua bảo hiểm hàng hải quốc tế; đồng thời doanh thu xuất khẩu của doanh nghiệp chưa đủ lớn và ổn định để đàm phán mức chiết khấu cước cạnh tranh từ các hãng tàu quốc tế.
3. Tại sao năm 2007 sản lượng xuất khẩu gạo của công ty thấp hơn năm 2005 nhưng kim ngạch thu về lại đạt mức cao nhất trong cả giai đoạn 2005 - 2007?
Năm 2005 công ty xuất khẩu 156.460 tấn đạt 39,28 triệu USD; đến năm 2007 xuất khẩu 140.606 tấn nhưng kim ngạch đạt tới 40,74 triệu USD. Nguyên nhân là do đơn giá gạo xuất khẩu bình quân trên thị trường thế giới và của công ty năm 2007 đã tăng mạnh so với năm 2005, bù đắp sự sụt giảm về mặt sản lượng tuyệt đối.
4. Hoạt động nghiên cứu thị trường xuất khẩu tại công ty được tổ chức như thế nào và có những hạn chế gì?
Công ty chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn qua mạng Internet và tài liệu thương mại với đội ngũ chỉ gồm 2 nhân sự phụ trách. Phương pháp nghiên cứu tại chỗ rất ít khi được áp dụng, ngoại trừ đoàn đàm phán 5 người khảo sát thị trường Châu Âu. Do đó, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc nắm bắt kịp thời nhu cầu tiêu dùng thực tế và tập quán thị trường ở các quốc gia nhập khẩu.
5. Năng lực cơ sở vật chất phục vụ chế biến gạo xuất khẩu của công ty tại thời điểm nghiên cứu gồm những gì?
Hệ thống cơ sở vật chất của công ty gồm 1.000 m2 nhà xưởng xí nghiệp; hệ thống kho chứa sức chứa 18.000 tấn; 2 máy sấy lúa công suất 1.000 tấn/ngày; xưởng sản xuất bao bì 7.000 bao/năm; và các nhà máy, xí nghiệp chế biến gạo trực thuộc với tổng công suất đạt 100.000 tấn/năm.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Minh Phúc đã phản ánh chi tiết thực trạng hoạt động xuất khẩu và quy trình thực hiện nghiệp vụ ngoại thương mặt hàng gạo tại Công ty Cổ phần Du lịch An Giang trong giai đoạn 2005 - 2007. Công trình đã làm rõ những điểm mạnh về quy mô chế biến, thị trường truyền thống và uy tín thương mại, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn lớn như sự phụ thuộc vào điều kiện giao hàng FOB, thiếu vắng phòng marketing chuyên biệt và việc xuất khẩu qua trung gian làm mờ nhạt thương hiệu. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ từ khâu tổ chức nghiên cứu thị trường, chuyển đổi phương thức giao hàng sang CIF cho đến đào tạo nhân lực, tạo cơ sở thực tiễn hữu ích giúp doanh nghiệp tối ưu hóa hiệu quả xuất khẩu lúa gạo trong bối cảnh hội nhập quốc tế.