PHẦN MỞ ĐẦU 1, LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Nước ta là một nước nông nghiệp, do đó hoạt động sản xuất nông nghiệp sẽ có tiếng nói quyết định đến nh hình phát triển nền kinh tế chung của quốc gia, vì hoạt động sản xuất của hàng chục triệu lao động nông nghiệp đã trở thành một bộ phận chủ lực trong công cuộc xây dựng nên kinh tế hàng hoá nước ta hiện nay. Thời gian qua nhà nước đã tập trung giải quyết khá toàn diện, đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân, hệ quả là nền sản xuất nông nghiệp đã có những bước phát triển vượt bậc, trong đó ngành trồng cây công nghiệp phát triển mạnh và nhanh chóng trở thành một bộ phận quan trọng của nền nông nghiệp quốc gia, diện tích cây công nghiệp hàng năm đã có 668,9 nghìn ha, cây công nghiệp lâu năm đạt đến 771,4 ngàn ha, để đạt được những giá trị này, nhà nước đã thực hiện đầu tư không dưới I0 ngần tỷ (tính đến cuối năm 1997), ở đây nguồn vốn tín dụng dù còn hạn chế nhưng do tính chất là nguồn vốn có hoàn trả nên có vai trò tác động rất tích cực. Tuy nhiên trong những năm gần đây (từ 1999) do giá giảm sút, việc tiêu thụ nông sản hàng hoá đã không được thuận lợi như trước, thu nhập trong trồng cây công nghiệp giảm dần đù sản lượng hàng hoá nông sản vẫn tăng, việc đầu tứ cho vùng chuyên canh, chỉ tập trung cho sản xuất hàng hoá nguyên liệu, Ngân hằng Nông nghiệp vừa kinh doanh, lại vừa phải hỗ trợ nông đân theo chính sách, thiệt hại từ khoanh nợ (hàng ngàn tỷ đồng), nợ quá hạn tăng cao, đã thể hiện chất lượng tín dụng trong nông thôn vùng cây công nghiệp đang dẫn giảm sút, hiệu quả đầu tư thấp dần. Ở địa bàn tỉnh Lâm Đồng, nên kinh tế chính vẫn dựa vào trồng cày công nghiệp và nguồn vốn chủ lực trong đầu tư phát triển cây công nghiệp vẫn là vốn tín dụng, việc nghiên cứu và đề xuất “Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với cho vay phát triển cây công nghiệp tại tỉnh Lam Đồng”, như là một nhìn nhận về sự sụt giảm hiệu quả trong tín dụng hiện nay đối với cho vay phát triển cây công nghiệp và yêu cầu phải sớm được cải thiện.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU: Việc nghiên cứu chỉ ở trong phạm vi hẹp, chỉ tập trung trình bày, phân tích hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT trong quá trình cho vay đối với một số cây công. nghiệp chính trên đất Lâm Đồng ( như Chè, Cà phê, Dâu, mà chính vào cây Cà phê và Chè). NOI DUNG LUAN VAN: Nêu vai trò của cây công nghiệp trong nên kinh tế và trong sự cải thiện cuộc sống ở nông thên Làm Đồng, vai trò của vốn tín dụng trong quá trình này, các mặt hạn chế tồn tại, nguyên nhân, các để xuất để nâng cao hiệu quả tín dụng của Ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CÚU: Qua thời gian rủi ro tín dụng trong cho vay trồng cây công nghiệp tăng dan, nghiên cứu và tìm biện pháp khác phục là mục tiêu của luận văn này.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Vận dụng phương pháp biện chứng, sử dụng những lý thuyết cơ bản về Hiến tệ, tín dụng, kinh tế vi mô, vĩ mô và các đữ liệu thống kê lịch sử, để phân tích. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN: Luận văn được chia làm 3 chương như sau : CHUONG 1: Tin dung va vai trò của tín đụng ngân hàng đối với phát triển vùng cây công nghiệp. CHƯƠNG 2: Thực trạng tín dụng đổi với quá trình phát triển cây công nghiệp tại tỉnh Lâm đồng. CHƯƠNG 3: Những giải pháp để nâng cao hiệu quả vốn tín dụng ngân hàng đối với phát triển cây công nghiệp trên dia ban tinh Lam Đồng.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. CHƯƠNG1 TÍN DỰNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VOI PHAT TRIEN VUNG CAY CÔNG NGHIỆP.1 TIN DUNG VA VAI TRO CUA TIN DUNG: 1.1 Khái niệm tín dụng: Từ khi con người có cuộc sống quần tụ và ý thức về những giá trị đạo đức, quyền hạn, trách nhiệm, phát triển đến một mức nhất định, thì cùng với những quan hệ xã hội khác, quan hệ vay mướn (mươn) tài vật lần nhau cũng xuất hiện. Cá nhân (hay bộ tộc) này do tạm thời thiếu thốn một số tài vật và nghĩ rằng mình sẽ có khả năng trả lại trong tương lai, đã hỏi để mượn ở cá nhân, bộ tộc khác khoản thiến thốn đó, và bắt nguồn từ sự tin rằng sau này sẽ được hoàn trả mà cá nhân (hay bộ tộc) kia đồng thuận cho mướn tài vật. Khởi nguồn từ tiếng Latin là credito, creditor, credo với ý nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm, việc một bên bằng tin tưởng, đồng thuận cho bên kia sử dụng hiện vật, tiền bạc, dịch vụ của mình và đối lại là sự hứa hẹn của bên kia sẽ hoàn trả đủ số (tài sản vốn) hay lớn hơn sau một thời gian nhất định, vậy là một quan hệ kinh tế làm địch chuyển quyền sở hữu tạm thời trên cơ sở tin tưởng được hình thành.
hay nói cách khác quan hệ tín dụng đã được thiết lập. Khi nói đến tín dụng người ta thường liên tưởng đến Ngân hàng, thật vậy hoạt động Ngân hàng đã để lại vết tích cổ xưa của mình từ rất sớm ( khoảng 3500 năm trước tây lịch), từ thời đó các chủ ngân hàng qua đúc kết đã nhận ra rằng, việc lưu giữ toàn bộ số tiền gởi trong quỹ khi đang có các nhu cầu về tiền bạc của các thương nhân là lãng phí và bất lợi, họ bằng sự tin tưởng đã đưa một phần lượng Hiền gửi này cho các nhà kinh doanh, khi được hứa là sẽ hoàn trả đủ sau này, sẽ không làm mất mát tiền của người gửi vào, mà lại tạo được lợi ích cho chính mình, và xã hội, bằng việc làm này các chủ ngân hàng lúc đó đã tạo ra một nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động của Ngân hàng, và qua nó nền kinh tế xã hội được tác động và cải thiện đáng kể, đó là nghiệp vụ tín dụng. Chính nhờ vào nghiệp vụ này mà vai trò trung gian tài chính của Ngân hàng đã trở thành cần thiết và trọn vẹn. Do được hiểu theo nhiều cách, đã có khá nhiều định nghĩa về tin dung, tuy nhiên xét về tính phổ dụng ta tạm thời dùng một số định nghĩa như sau: - Tín dụng là một trạng thái ứng xử tài chính của hai chủ thể, ở đó một bên từ sự tin tưởng, đồng ý cho bên kia được quyền sử dụng các giá trị đưới dạng tiền bạc, tài sản hoặc dịch vụ của mình, theo một hứa hẹn của bên kia rằng toàn bộ giá trị đó sẽ được hoàn trả (cùng giá trị tăng thêm, nếu có) ở một thời điểm trong tương lai.
- Tín dụng về phía ngân hàng có thể được phản tích như một nghiệp vụ trong đó một thể nhân hay pháp nhân, gọi là người cho vay, để cho người khác, gọi là người đi vay, sử đụng một số tiền với cam kết phải hoàn trả, kèm theo lãi, và ở đây người chơ vay đo tin vào khả năng và uy tín của người vay để quyết định. - Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng tư bản giữa người cho vay và người đi vay trên ba nguyên tắc: có hoàn trả, có thời hạn vừa có đền bù. Từ các định nghĩa trên thì bản chất tín dụng chính là một quan hệ mượn ( bao gdm ý niệm mượn thuần tuý, thuê, vay) tài sản, với những đặc trưng sau:. Tai s4n trong quan hệ tín dụng ngân hàng thường thể hiện dưới hai hình thái: - bằng tiền (chơ vay).
và -hiện vật (cho thuê động sản và bất động sản). , Khi quyết định cho mượn là tài sản phải được thu hồi sau này, vậy việc tìm hiểu khả năng hoàn trả đúng hạn của người mượn, là việc làm cơ bản mà người cho vay phải làm trước tiên. , Giá 1rị tài sản hoàn trả thường lớn hơn giá trị lúc cho vay một lượng gọi là lãi vay, nó có ý nghĩa:_ bồi hoàn sự mất giá của đồng bạc. _bù cho sự hy sinh của bên cho vay khi chịu tạm mất quyền sữ dụng trong một thời gian, _tưởng thưởng cho bên cho vay về thiện ý sẵn sàng đối mặt với các rủi ro từ việc cho mướn trên.
Khoản lãi này được xem như là giá cả việc mượn vốn, được tính bằng tỷ lệ % trên vốn gốc nên gọi là lãi suất. „ Đối lại cho sự tín nhiệm trong quan hệ tín dụng là sự hứa hẹn hoàn trả đúng hạn của bên vay, trong thực tế lời hứa hẹn này phải thể hiện đưới dạng văn bản theo qui định pháp lý như hợp đồng, khế ước, biểu lộ một cam kết của bên vay trước pháp luật về trách nhiệm phải hoàn trả vô điểu kiện khoản nợ vay khi đến hạn trả.2 Vai trò của tín dụng - Năm 1948 trong hội nghị tại trung tâm nghiên cứu cao cấp ngân hàng, Emmanuel de S%eze đã nói:”.trong thế giới hiện đại, tín dụng là một sức mạnh không thể so sánh, nó là đòn bẩy chủ yếu của mọi hoạt động kinh doanh, không có nó các nhà máy, công ty sẽ dần khốn đến, vì không còn khả năng tự phát triển, ngược lại thì khả năng sản xuất, trao đổi sẽ trở nên vô cùng, nó là động lực chính của sự tiến bộ của nhân loại”.239 Technique ct prattque bancaires ). Theo nên kinh tế phát triển mà hoạt động khai thác, sản xuất, trao đối, ngày càng nhiều, từ đó giá trị của cải xã hội luôn thay đổi sự biểu hiện, khi thì dưới đạng tiền tệ, khi thì dưới dạng hiện vật; sự thay đổi này không thể đồng thời do có nhiều chủ hữu, tham gia sản xuất, tiêu thụ ở phiền chu trình, thời điểm khác nhau; từ đó việc dư thừa hoặc thiếu hụt tạm thời về tài vật luôn xây ra xen kẽ cho mọi thành viên của xã hội, nếu không được điều tiết thì hệ quả là năng suất sản xuất chung của xã hội bị hạn chế, không phát huy hết được năng lực .