Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động tín dụng của NHTM Hoạt động của ngân hàng thương mại theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được chia thành 3 loại hình nghiệp vụ chính như sau: Nghiệp vụ nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Khái niệm tín dụng Tín dụng là một khái niệm đã tồn tại từ rất lâu đời trong xã hội loài người. Trước Mác nhiều nhà kinh tế học đã đi sâu nghiên cứu để nhằm mục đích đưa ra một khái niệm chuẩn về tín dụng cũng như luận giải cho được bản chất của tín dụng.
Những quan điểm đưa ra không hoàn toàn giống nhau song họ có được sự thống nhất chung khi cho rằng tín dụng là quan hệ kinh tế nảy sinh giữa người đi vay và người cho vay thông qua một hình thái vật chất là hàng hoá hoặc tiền tệ. Nói cách khác tín dụng là việc sử dụng vốn của người khác (hàng hóa hoặc tiền tệ) trên cơ sở cam kết có hoàn trả cả gốc và lãi. Theo quan điểm của Mác: Tín dụng là sự vay mượn một lượng giá trị giữa người sở hữu và người sử dụng để sau một thời gian người sở hữu (người cho vay) sẽ thu về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu đó, các nhà kinh tế học sau Mác đã đi sâu luận giải nhằm hoàn chỉnh khái niệm tín dụng.
Khái niệm tín dụng: Tín dụng là giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên vay. Trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán. Theo Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) số 47/2010/QH12 được Quốc hội ban hành ngày 17 tháng 06 năm 2010 thì “Cấp tín dụng là việc thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đặc điểm của tín dụng NHTM 1. Tín dụng là quan hệ được thiết lập trên cơ sở tin cậy và uy tín Ngân hàng trên cơ sở kinh nghiệm, kỹ năng và khả năng đánh giá khách hàng của mình để xác định mức độ tín nhiệm của khách hàng vay vốn trước khi xét đến các điều kiện khác. Trong hoạt động tín dụng ngân hàng ngày nay, “Uy tín” đang ngày càng có tầm quan trọng cao hơn. Các hình thức bảo đảm tiền vay như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh của bên thứ ba là cần thiết, nhưng sự “tín nhiệm” giữa các bên vẫn cần là yếu tố chính để thiết lập quan hệ tín dụng.
Tín dụng được phân phối dưới hình thức cho vay Giai đoạn này vốn tiền tệ từ trung gian tài chính là các ngân hàng được chuyển sang người đi vay. Ngân hàng xác định một thời hạn cho vay hợp lý trên cơ sở căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn và quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay vốn. Do vậy, nếu ngân hàng có nhiều nguồn vốn dài hạn ổn định thì có thể cấp được nhiều tín dụng trung - dài hạn ngược lại nếu nguồn vốn không ổn định kỳ hạn ngắn mà cấp nhiều tín dụng dài hạn thì sẽ gặp rủi ro thanh khoản. Xác định thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì người vay mới có điều kiện trả nợ đúng hạn.
Tín dụng phải dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi “Tín dụng” đúng nghĩa phải là giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, nghĩa là ngoài việc trả nợ gốc người đi vay phải trả cho ngân hàng một khoản lãi, đây chính là giá của quyền sử dụng vốn vay và khoản lãi phải luôn là một số dương để bù đắp lại cho chi phí hoạt động và tạo lợi nhuận cho ngân hàng, phản ánh đúng bản chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tín dụng là hoạt động mang tính rủi ro đa chiều Rủi ro trong hoạt động tín dụng xuất phát từ nhiều chiều: từ phía khách hàng, từ phía ngân hàng, từ nền kinh tế, xã hội, chính trị và nhiều yếu tố khác. Rủi ro từ phía khách hàng có thể kể đến như: rủi ro dẫn đến mất khả năng thanh toán của khách hàng (năng lực tài chính, năng lực sản xuất, quản lý kinh doanh của khách hàng kém, rủi ro do nguyên nhân thiên tai, hoả hoạn,. ảnh hưởng), rủi ro đạo đức (khách hàng sử dụng sai mục đích, không thực hiện cam kết trả nợ).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Rủi ro từ phía ngân hàng: Rủi ro trong quản lý tín dụng, kiểm tra giám sát, rủi ro do quản trị tín dụng của ngân hàng kém, rủi ro do đạo đức cán bộ,. Các rủi ro do thay đổi của nền kinh tế, xã hội, thay đổi của chính sách quản lý, bất ổn chính trị cũng tác động đến hoạt động tín dụng. Tín dụng luân dựa trên nguyên tắc hoàn trả tín dụng: điều này được thỏa thuận ghi rõ trong hợp đồng tín dụng, hợp động bảo đảm tiền vay và các văn bản liên quan của ngân hàng ký với người vay; đây là giai đoạn kết thúc để hoàn thành một chu trình quay vòng vốn, vốn tín dụng lại quay trở lại hình thức tín dụng ban đầu có thêm phần giá trị tăng thêm, người vay phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng. Vai trò của tín dụng ngân hàng 1.
Đối với nền kinh tế Tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu luân chuyển về vốn cho nền kinh tế là người trung gian điều hoà quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế, hoạt động tín dụng đã thông dòng cho vốn chảy từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Nhu cầu về vốn không chỉ đáp ứng cho sản xuất kinh doanh mà còn cho cả tiêu dùng. Người có vốn và người cần vốn qua trung gian là ngân hàng đã luân chuyển vốn từ người tiết kiệm sang người sử dụng vốn có ý nghĩa rất lớn trong thúc đẩy kinh tế phát triển Tín dụng ngân hàng giúp phân bổ nguồn vốn hỗ trợ cho quá trình SXKD được thực hiện bình thường liên tục và phát triển góp phần đẩy nhanh quá trình mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế, mở rộng phạm vi quy mô sản xuất có hiệu quả. Thông qua tín dụng ngân hàng đầu tư vào ngành nghề, khu vực, vùng kinh tế trọng điểm thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả và có cơ cấu điều tiết hợp lý.
Tín dụng ngân hàng góp phần lưu thông tiền tệ, hàng hóa, điều tiết thị trường, kiểm soát dòng tiền và mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại. Tín dụng ngân hàng mang lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua thuế thu nhập và các khoản thu ủy thác đầu tư của nhà nước. Tín dụng ngân hàng góp phần thực hiện chính sách nông nghiệp nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo đảm bảo ổn định chính trị, xã hội. Đối với khách hàng Tín dụng ngân hàng đáp ứng kịp thời đáp ứng nhu cầu về số lượng, chất lượng vốn cho khách hàng.
Với các ưu điểm của sản phẩm an toàn, nhanh chóng, dễ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tiếp cận và khả năng đáp ứng vốn lớn, tín dụng ngân hàng có khả năng thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Tín dụng ngân hàng giúp nhà đầu tư nắm bắt được cơ hội kinh doanh, mở rộng sản xuất, cá nhân tăng chi tiêu nâng cao đời sống. Tín dụng ngân hàng với sự ràng buộc trong sử dụng vốn có hoàn trả gốc và lãi đã kích thích tư duy khả năng, sự năng động, nhạy bén trong hoạt động của khách hàng để sử dụng vốn vay có hiệu quả. Đối với ngân hàng Tín dụng là hoạt động truyền thống, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng (từ 70 - 90%) và mặc dù tỷ trọng của hoạt động tín dụng đang có xu hướng giảm, nhưng tín dụng ngân hàng vẫn là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất trong hoạt động NHTM.
Thông qua tín dụng ngân hàng phát triển các sản phẩm dịch vụ khác như thanh toán trong nước và quốc tế, thu hút tiền gửi, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn, bảo lãnh,… và đa dạng hóa danh mục tài sản có sinh lời. Các hình thức tín dụng cơ bản của NHTM Khi nghiên cứu về các hình thức tín dụng ngân hàng trên cơ sở tập hợp các phương thức cấp tín dụng trên một số tiêu chí nhất định theo quan điểm chung nhất người ta phân chia thành các hình thức tín dụng sau: 1. Căn cứ theo hình thức cấp tín dụng Theo đó cấp tín dụng (cho vay) là việc Ngân hàng đưa cho khách hàng một lượng tiền cụ thể với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi vay trong một khoảng thời gian xác định; bao gồm các hình thức: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân chuyển, cho vay trả góp, cho vay thấu chi, nghiệp vụ chiết khấu; bảo lãnh; Cho thuê (thuê mua tài sản). Căn cứ theo thời hạn sử dụng vốn vay Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng.
Bao gồm: Tín dụng ngắn hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Tín dụng trung hạn: Là những khoản tín dụng có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng.