Chương 1: Khung lý thuyết về hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Hà Nội. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Hà Nội. 5 CHƢƠNG 1: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 11. Khái niệm tín dụng của ngân hàng thương mại Theo từ điển mở Việt Nam: “Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các đối tác kinh tế - tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước”. Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Luật số: 47/2010/QH12): Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Với cách tiếp cận đơn giản: Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Với cách tiệp cận phức tạp: Tín dụng trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng, là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán. Qua các cách tiếp cận trên, tóm tắt lại, khái niệm tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung cơ bản sau: Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu (ngân hàng) sang người sử dụng (khách hàng). Sự chuyển nhượng vốn này xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, ngân hàng khi chuyển giao vốn cho khách hàng sử dụng phải có cơ sở để tin rằng khách hàng sẽ hoàn trả đúng hạn dựa trên việc đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng. 6 Sự chuyển nhượng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng có thời hạn.
Sự chuyển nhượng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng có kèm theo chi phí. Các hình thức cấp tín dụng cơ bản của NHTM Có nhiều cách phân loại các hình thức cấp tín dụng khác nhau tuỳ theo từng tiêu thức nhất định. Sau đây là cách phân loại theo PGS. Phan Thị Thu Hà tại Giáo trình Quản trị ngân hàng thương mại.
Theo thời gian: Tín dụng ngân hàng phân loại theo thời gian gồm 3 loại: (i) Tín dụng ngắn hạn có thời gian cho vay từ 12 tháng trở xuống, (ii) Tín dụng trung hạn có thời gian cho vay từ trên 1 năm đến 5 năm, (iii) Tín dụng dài hạn có thời gian cho vay trên 5 năm. Thời hạn tín dụng thường được xác định cụ thể và ghi trong hợp đồng tín dụng, là thời hạn trong đó ngân hàng cam kết cấp cho khách hàng một khoản tín dụng. Việc phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo tài sản bảo đảm: Tài sản đảm bảo ở đây được coi như là nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất không được đảm bảo chắc chắn gồm 2 loại: Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: là việc tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh bằng tài sản của người thứ ba, mà việc tín dụng chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng.
Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần nguồn thu nợ thứ hai bổ sung. Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: là loại tín dụng dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh bằng tài sản của người thứ ba. Khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm. Theo mức độ rủi ro Trên thực tế, tùy theo tình hình trả nợ vay và tài sản đảm bảo của khoản vay mà các ngân hàng đánh giá mức độ rủi ro của từng khoản vay để trích lập chi phí dự phòng rủi ro tương ứng, qua đó có những chính sách quản trị rủi ro tín dụng kịp thời.
Theo QĐ 493/2005/QĐ–NHTM ngày 22/04/2005 của NHNN các khoản tín dụng sẽ được sẽ được chia thành 5 nhóm tuỳ theo mức độ rủi ro như sau: Nợ đủ tiêu chuẩn (Nợ nhóm 1): là các khoản nợ trong hạn và được đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn, bao gồm các khoản tín dụng có thời gian trả chậm < 10 ngày. Nợ cần chú ý (Nợ nhóm 2): là các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng bị suy giảm khả năng trả nợ, bao gồm các khoản tín dụng có thời gian trả chậm từ 10 ngày đến 90 ngày. Nợ dưới tiêu chuẩn (Nợ nhóm 3): là các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi đến hạn khi các khoản nợ này đáo hạn. Các khoản nợ này được các tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi, bao gồm các khoản tín dụng có thời gian chậm trả > 90 ngày và < 180 ngày.
Nợ nghi ngờ (Nợ nhóm 4): là các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất cao, bao gồm các khoản tín dụng chậm trả > 180 ngày. Nợ có khả năng mất vốn (Nợ nhóm 5): gồm các khoản nợ được các tổ chức tín dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi. Nợ quá hạn là khoản nợ có nợ gốc, lãi đến hạn (toàn bộ hoặc một phần) không được thực hiện một cách đầy đủ, hoặc không được ngân hàng chấp thuận cơ cấu lại nợ (bao gồm điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn thời gian trả nợ). Nợ xấu là các khoản nợ bao gồm nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5.
Tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ của một ngân hàng sẽ phản ánh cơ bản chất lượng, hiệu quả hoạt động tín dụng tại ngân hàng, đo lường rủi ro, chất lượng của việc phát triển quy mô dư nợ cho vay của ngân hàng. 8 Việc phân loại các nhóm nợ này cũng rất linh hoạt và phụ thuộc vào đánh giá của các tổ chức tín dụng vào mức độ rủi ro của khoản vay. Một khoản vay nếu được đánh giá tốt hơn có thể được chuyển và xếp hạng tín dụng ở nhóm có mức độ rủi ro thấp hơn đồng thời TCTD cũng có thể xếp hạng một khoản tín dụng đang ở nhóm hạng rủi ro thấp hơn xuống nhóm hạng tín dụng rủi ro cao hơn nếu TCTD đó đánh giá và có đầy đủ cơ sở cho việc xếp hạng rủi ro khoản vay đó ở mức độ cao hơn. Phân loại nợ theo tiêu thức này là cơ sở để ngân hàng có thể chủ động đánh giá được mức độ rủi ro của danh mục tín dụng của mình tư đó có những chính sách quản trị điều hành hoạt động tín dụng thích hợp.
Tỷ lệ trích lập dự phòng: Theo QĐ 493/2005/QĐ–NHTM ngày 22/04/2005 của NHNN: Tỷ lệ trích lập dự phòng đối với các nhóm nợ như sau: Nhóm 1: 0%, nhóm 2: 5%, nhóm 3: 20%, nhóm 4: 50%; nhóm 5: 100%. Theo ngành kinh tế Tín dụng cũng có thể được phân chia theo ngành nghề kinh tế như xây dựng, nông nghiệp, thương mại, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Trong hoạt động tín dụng, một trong những nội dung cực kỳ quan trọng chính là quản lý được rủi ro tín dụng. Việc thống kê dư nợ tín dụng theo tiêu thức ngành nghề có ý nghĩa giúp ngân hàng kiểm soát được danh mục tín dụng theo ngành nghề, từ đó có những điều chỉnh danh mục tín dụng theo ngành nghề thích hợp, phù hợp với định hướng hoạt động của ngân hàng và xu hướng phát triển của nền kinh tế.
Theo đối tƣợng khách hàng Phân loại tín dụng theo đối tượng khách hàng là cách phân loại đang được các ngân hàng sử dụng hiện nay. Việc phân loại theo hình thức này tạo điều kiện cho các Ngân hàng tìm được đối tượng khách hàng phù hợp với ngân hàng mình và xây dựng chính sách marketing, chính sách khách hàng… sao cho hiệu quả nhất. Ngân hàng phân đối tượng khách hàng thành hai loại: khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân. Tín dụng doanh nghiệp: là các khoản cho vay để đáp ứng nhu cầu thiếu 9 hụt về vốn của các doanh nghiệp và tổ chức trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Tín dụng cá nhân (Tín dụng bán lẻ): là các khoản cho vay đáp ứng nhu cầu thiếu hụt của các cá nhân trong xã hội. Ngoài các hình thức chủ yếu trên còn có các hình thức tín dụng khác tuỳ vào điều kiện hoạt động kinh doanh của ngân hàng và đặc điểm của khách hàng vay như theo đối tượng tín dụng (tài sản lưu động, tài sản cố định), theo hình thức (chiết khấu, cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính). Theo hình thức tài trợ tín dụng Hoạt động cấp tín dụng của NHTM bao gồm các hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, bao thanh toán và cho thuê tài chính. Trong các hình thức cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Vai trò của hoạt động tín dụng đối với các thành phần kinh tế a. Đối với ngân hàng Thứ nhất, tín dụng là hoạt động truyền thống, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho các ngân hàng (theo kết quả tự tổng hợp của tác giả, đối với các NHTM tại Việt Nam, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng chiếm tới 70%-90% tổng lợi nhuận hoạt động kinh doanh của ngân hàng).