đặt vấn đề về hiệu quả bên trong- hiệu quả đối với bản thân ngân hàng thương mại.1 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Ngân hàng thương mại là loại hình TCTD hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng, với mục tiêu tài chính cuối cùng là lợi nhuận. Chính vì vậy, để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, nhà quản lý sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận. Ngân hàng nào có lợi nhuận cao, tỷ suất lợi nhuân lớn, ngân hàng đó hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Để xác định lợi nhuân, bộ phận kế toán và quản trị tài chính xác định thu nhập và chi phí trong niên độ 1.1 Thu nhập của ngân hàng thương mại Hoạt động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường là hoạt động kinh doanh với mục đích là lợi nhuận.
Muốn thu được lợi nhuận cao thì vấn đề then chốt là quản lý tốt các khoản mục tài sản Có, nhất là khoản mục cho vay và đầu tư, cùng các hoạt động trung gian khác. Thu nhập của ngân hàng nếu phân chia theo tính chất của các khoản thu nhập, được chia làm hai loại là thu nhập lãi và thu nhập phi lãi. Nếu phân chia theo nội dung kinh tế, thu nhập của ngân hàng thương mại bao gồm 6 khoản mục lớn, bao gồm các khoản thu nhập sau : - Thu nhập từ hoạt động tín dụng. - Thu nhập phí từ hoạt động dịch vụ.
- Thu nhập từ hoạt động ngoại hối. - Thu nhập từ hoạt động khác. - Thu lãi góp vốn mua cổ phần. - Thu nhập khác.
15 Trong các khoản thu nhập nói trên, thu nhập từ hoạt động tín dụng là thu nhập chính, chiếm tỷ trong lớn nhất trong tổng thu nhập của ngân hàng. Tăng hiệu quả kinh doanh ngân hàng, trước hết phải tăng thu nhập từ hoạt động tín dụng và các khoản thu nhập tương tự.2 Chi phí của ngân hàng Chi phí của ngân hàng thương mại là tập hợp tất cả chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng thương mại. Nếu phân loại theo tính chất của chi phí, chi phí của ngân hàng cũng được chia làm hai loại: chi phí lãi và chi phí phi lãi. Nếu phân loại theo nội dung kinh tế, chi phí của ngân hàng bao gồm 10 khoản mục chi như sau : - Chi về hoạt động tín dụng.
- Chi phí hoạt động dịch vụ. - Chi phí hoạt động ngoại hối. - Chi nộp thuế và các khoản phí, lệ phí. - Chi phí hoạt động khác.
- Chi phí cho nhân viên. - Chi cho hoạt động quản lý và công cụ. - Chi về tài sản. - Chi phí dự phòng, bảo toàn và bảo hiểm tiền gửi của khách hàng.
- Chi phí khác. Tương tự như thu nhập, chi phí cho hoạt động tín dụng luôn chiếm tỷ trọng rất lớn và là chi phí chủ yếu trong ngân hàng thương mại. Các khoản chi cho hoạt động dịch vụ cũng là khoản chi khá lớn trong ngân hàng thương mại. Nhưng chi phí tín dụng chiếm tỷ trong lớn nhất, vì vậy muốn nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, phải từng bước giảm chi cho hoạt động tín dụng.3 Lợi nhuận của ngân hàng thương mại Lợi nhuận của NHTM là chênh lệch giữa thu nhập và chi phí trong niên độ kế toán và bao gồm : lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận ròng.
+ Lợi nhuận trước thuế = Tổng thu nhập – Tổng chi phí 16 + Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế – Thuế thu nhập doanh nghiệp Trong đó thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp với thuế suất 25 % năm Lợi nhuận ròng là kết quả tài chính cuối cùng trong hoạt động kinh doanh, nhưng để đánh giá hiệu quả này cao hay thấp, ta sử dụng các chỉ tiêu sau: + Tỷ suất lợi nhuận / Tài sản Có ( Return On Asset – ROA) : Chỉ tiêu này so sánh giữa lợi nhuận ròng trong kỳ so với tổng tài sản Có bình quân trong kỳ. Chỉ tiêu cho biết với một đồng tài sản Có sẽ tạo ra bao nhiêu lãi ròng. + Tỷ suất lợi nhuận / Vốn chủ sở hữu ( Return On Equyty- ROE) : Chỉ tiêu này so sánh giữa lợi nhuận ròng trong kỳ so với Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ. Chỉ tiêu cho biết với một đồng vốn chủ sở hữu sẽ tạo ra bao nhiêu lãi ròng.
Chỉ tiêu ROA và ROE càng lớn, thì hiệu quả kinh doang của ngân hàng càng cao Lợi nhuận thực hiện trong năm là kết quả kinh doanh của NHTM, bao gồm lợi nhuận hoạt động nghiệp vụ ( Tín dụng và đầu tư) và lợi nhuận các hoạt động khác. Trong đó lợi nhuận hoạt động tín dụng thường chiếm tỷ trọng cao từ 70% đến trên 85 %. Do đó, việc nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động của NHTM.2 Hiệu quả hoạt động tín dụng của NHTM Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại gồm hai mặt là hoạt động huy động vốn, và hoạt động cho vay. Do vậy, các nhà quản trị ngân hàng cần phải đo lường hiệu quả cho từng hoạt động riêng, đồng thời đánh giá hiệu quả chung.
Hiện nay, các nhà quản trị ngân hàng chú trọng đến các chỉ tiêu hiệu quả từng hoạt động tín dụng sau: * Đối với hoạt động huy động vốn : + Nguồn vốn huy động và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động + Tỷ lệ Vốn huy động so với Tổng nguồn vốn + Tỷ lệ Vốn huy động, so với Vốn chủ sở hữu + Lãi suất bình quân đầu vào * Đối với hoạt động tín dụng ( cho vay ) + Dư nợ tín dụng và tốc độ tăng trưởng tín dụng 17 + Dư nợ / Nguồn vốn huy động + Dư nợ / Tổng tài sản + Lãi suất bình quân đầu ra + Vòng quay vốn tín dụng + Tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu 1.1 Đánh giá kết quả huy động vốn và tín dụng a. Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy độngvà các tỷ lệ liên quan Nguồn vốn tín dụng là nguồn vốn chủ yếu để phát triển nền kinh tế, nguồn vốn này được tạo lập từ hệ thống ngân hàng thương mại. Trong khi đó, tỷ trọng vốn tự có của ngân hàng thương mại thường rất thấp, chỉ vào khoảng từ 5% đến 10% tổng nguồn vốn hoạt động tín dụng của ngân hàng. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại chủ yếu dựa vào nguồn vốn huy động.
Nguồn huy động chủ yếu từ các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế. Nếu ngân hàng huy động được nhiều tiền từ nền kinh tế, thì ngân hàng mới có thể mở rộng cho vay và đầu tư tín dụng. Nếu phân tích theo góc nhìn đó thì tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động cao và hợp lý, được coi là hoạt động tín dụng có hiệu quả. Một ngân hàng có tốc độ tăng trưởng nguồn vốn hợp lý, trước hết phải là ngân hàng có uy tín đối với công chứng, được công chúng tin tưởng thì họ mới gửi tiền vào.
Mặt khác để có tốc độ tăng trưởng nguồn vốn hợp lý, ngân hàng đó phải có tính chuyên nghiệp cao và có đội ngũ nhân viên tốt, phải có mạng lưới hoạt động tín dụng rộng khắp với công tác tiếp thị và quảng cáo tốt. Tất cả đều chứng tỏ hiệu quả hoạt động tín dụng tốt của một ngân hàng. Vì vậy, công tác huy động vốn tiền gửi luôn đóng vai trò quan trọng, nó ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế cũng như hiệu quả hoạt động tín dụng của ngành ngân hàng. Bên cạnh chỉ tiêu về tăng trưởng nguồn vốn huy động, nhà quản trị sử dụng con số so sánh để đánh giá kết quả hoạt động huy động vốn như nói ở trên.
Tốc độ tăng trưởng tín dụng Huy động vốn và cho vay phải đi đôi với nhau. Huy động được nhiều vốn nhưng không có đầu ra, hoặc đầu ra ít thì sẽ bị thua lỗ trong hoạt động tín dụng. Chính vì vậy, bên cạnh chỉ tiêu về nguồn vốn huy động, cần có chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ hợp lý mới đánh giá đầy đủ và toàn diện hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn luôn phải tương ứng với tốc độ tăng trưởng tín dụng và ngược lại.
Các NHTM cần cẩn trọng khi tốc độ tăng trưởng của tín dụng quá cao so với tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động vì như vậy sẽ dẫn đến rủi ro thanh khoản cho ngân hàng hoặc nếu tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp hơn tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động thì NHTM cũng không tối đa hóa được lợi nhuận từ hoạt động tín dụng.2 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng và hiệu quả tín dụng Chất lượng tín dụng là yếu tố sống còn, quyết định sự tồn tại và phát triển ngân hàng. Phải tích cực, kiên quyết để nâng cao chất lượng tín dụng, xử lý nhanh nợ xấu, nợ tồn đọng để nâng cao vòng quay vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất. Coi trọng kiểm tra, kiểm soát, kiên quyết xử lý kịp thời các sai sót, gắn kiểm tra với việc chỉnh sửa và xử lý sau kiểm tra. Chất lượng tín dụng được đánh giá thông qua việc phân loại nợ tại một thời điểm nhất định ( theo quyết định 493 của NHNN Việt Nam) và được đo lường qua các chỉ tiêu cụ thể như: + Tỷ lệ Nợ quá hạn = Nợ quá hạn / tổng dư nợ ≤ 5% + Tỷ lệ Nợ xấu = Nợ xấu / tổng dư nợ ≤ 3% + Vòng quay vốn tín dụng Vòng quay vốn tín dụng được tính theo công thức: Doanh số thu nợ trong kỳ Vòng quay vốn tín dụng = Dư nợ bình quân trong kỳ Đây là chỉ tiêu phản ánh số vòng chu chuyển của vốn vay trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm).
Chỉ tiêu này càng tăng thì tính tổ chức, quản lý tín 19 dụng càng tốt, chất lượng cho vay càng cao. Tuy nhiên, chỉ tiêu này chỉ phản ánh một cách tương đối, vì nếu một NHTM cho vay đối với các DN sản xuất chiếm tỷ trọng lớn dư nợ, thì chỉ tiêu này thấp hơn NHTM khác cho vay các DN thương mại. Như vậy, không vì thế mà chất lượng cho vay của NHTM này kém hơn vì kỳ hạn cho vay các hoạt động tín dụng và đầu tư của các doanh nghiệp khác nhau thuộc các ngành khác nhau sẽ khác nhau. Từ thực tế trên, để phản ánh tương đối chính xác về chất lượng tín dụng thì các tiêu thức tính toán phải thống nhất, vòng quay tín dụng phải tính toán cho từng loại vay, thời hạn vay và từng đối tượng vay cụ thể.