phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc bố cục thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về thu bảo hiểm xã hội. Chƣơng 2: Thực trạng công tác thu BHXH tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dƣơng giai đoạn 2008 – 2012. Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu BHXH tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dƣơng. 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU BHXH 1.
Bản chất, vai trò và nội dung về thu BHXH 1. Khái niệm chung và các quan điểm về BHXH 1. Khái niệm, bản chất của BHXH Trong cuộc sống con ngƣời muốn tồn tại và phát triển đƣợc trƣớc hết phải ăn, mặc, ở, đi lại. Để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu đó, con ngƣời phải lao động làm việc tạo ra những sản phẩm cần thiết phục vụ chính con ngƣời.
Vì vậy, việc đáp ứng thoả mãn những nhu cầu của con ngƣời phụ thuộc vào chính khả năng lao động của họ, nhƣng trong thực tế con ngƣời không phải lúc nào cũng khoẻ mạnh, gặp thuận lợi và có đầy đủ thu nhập, vì trong cuộc sống con ngƣời còn gặp những rủi ro bất ngờ, hoặc gặp những khó khăn bất lợi làm giảm hoặc mất thu nhập, ảnh hƣởng rất nhiều đến cuộc sống của chính bản thân và cả gia đình họ, chẳng hạn nhƣ bị ốm đau, tai nạn lao động, mất việc làm, hoặc hết khả năng lao động khi về già… Khi gặp phải những rủi ro xã hội và khó khăn đó con ngƣời đã phải tự tìm nhiều cách khắc phục bằng những hành động tƣơng thân, tƣơng ái (lập các quỹ tƣơng tế, các hội đoàn.) nhƣng những cách đó hoàn toàn thụ động, không chắc chắn, đòi hỏi giới chủ và Nhà nƣớc phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ. Khi nền kinh tế hàng hóa ra đời và phát triển, việc thuê mƣớn lao động đã diễn ra phổ biến làm cho mối quan hệ kinh tế giữa giới chủ với giới thợ đa dạng hơn và cũng phức tạp hơn rất nhiều. Lúc đầu giới thợ chỉ đƣợc trả công trả lƣơng những làm việc, còn những ngày nghỉ việc họ không đƣợc trả còn bất kỳ một khoản thu nhập nào khác, nên khi không may bị ốm đau, hay nghỉ sinh đẻ, hoặc bị tai nạn lao động… họ không có tiền để trang trải và gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. Trƣớc thực tế đó, giới thợ đã đấu tranh buộc giới chủ phải cam kết trả công trả lƣơng cho họ khi họ nghỉ, hoặc khi họ hết tuổi lao động.
Nhƣng khi thực hiện, giới chủ phát sinh thêm một khoản chi 6 phí lớn mà họ không mong muốn, nên đã nảy sinh mâu thuẫn giữa giới chủ và thợ, giới thợ đã tiến hành rất nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt và diễn ra rộng khắp buộc giới chủ phải thực hiện theo đúng cam kết đó nhằm thỏa mãn mong muốn và nhu cầu đó của họ, điều đó đã gây ra những tác động to lớn đối với đời sống kinh tế xã hội lúc bấy giờ. Trƣớc tình hình càng trở nên căng thẳng, buộc Nhà nƣớc phải đứng ra can thiệp và đƣa ra những biện pháp nhằm ổn định tình hình kinh tế xã hội, trong đó phải kể đến biện pháp hình thành một quỹ tài chính tập trung trên phạm vi quốc gia do sự tham gia đóng góp của các bên, theo đó Nhà nƣớc quy định cả giới chủ và giới thợ đều phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng, khoản tiền đó đƣợc tính toán dựa trên cơ sở xác suất rủi ro của giới thợ và tiền công, tiền lƣơng mà giới chủ trả cho giới thợ và ngoài số tiền đóng góp của giới chủ và giới thợ, quỹ này còn nhận đƣợc sự hỗ trợ từ ngân sách Nhà nƣớc khi cần thiết. Nhờ vậy mà những bất lợi hay rủi ro của giới thợ đƣợc trang trải, bù đắp, nên cuộc sống của bản thân và gia đình họ ngày càng đƣợc đảm bảo, giới chủ cũng thấy mình có lợi và đƣợc bảo vệ, công việc sản xuất kinh doanh ổn định hơn, giới thợ gắn bó và yên tâm làm việc tích cực hơn [10]. Toàn bộ những hoạt động với các mối quan hệ rằng buộc chặt chẽ giữa ba bên ở trên đƣợc thế giới quan niệm là BHXH.
Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống BHXH. Vì vậy, BHXH đã trở thành nhu cầu và quyền lợi của ngƣời lao động và đƣợc thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền lợi của con ngƣời nhƣ trong Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã nêu. 7 Vậy BHXH là gì? thì cho đến nay việc định nghĩa thế nào là BHXH vẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận vì tùy theo cách tiếp cận từ nhiều giác độ khác nhau với những quan điểm khác nhau lại có những khái niệm khác nhau, nhƣ: - Theo cách tiếp cận về mục đích của BHXH, có thể khái niệm: “BHXH là sự tổ chức bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho ngƣời lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động không đƣợc sử dụng, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác, nhằm góp phần đảm bảo an toàn kinh tế cho ngƣời lao động và gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội”. - Từ giác độ pháp luật: "BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ ngƣời lao động, sử dụng tiền đóng góp của ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động và đƣợc sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nƣớc, nhằm trợ cấp vật chất cho ngƣời đƣợc bảo hiểm và gia đình họ trong trƣờng hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thƣờng do ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động hoặc chết theo quy định của pháp luật".
- Từ giác độ tài chính: "BHXH là kỹ thuật chia sẻ rủi ro về tài chính giữa những ngƣời tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật". - Từ giác độ chính sách xã hội: "BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho ngƣời lao động khi họ không may gặp phải các rủi ro xã hội, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội" [10]. - Theo Luật BHXH Việt Nam định nghĩa tại Khoản 1, Điều 3: "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của ngƣời lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội" [8]. 8 Từ việc tìm hiểu các khái niệm, định nghĩa về BHXH ta có thể thấy mối quan hệ xuyên suốt trong hoạt động BHXH là mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia BHXH.
Khác với bảo hiểm thƣơng mại, trong BHXH mối quan hệ này dựa trên quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên đƣợc BHXH, cụ thể: - Bên tham gia BHXH là bên có trách nhiệm đóng góp BHXH theo quy định của pháp luật BHXH. Bên tham gia BHXH gồm có ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động và Nhà nƣớc (trong một số trƣờng hợp); - Bên BHXH, đó là bên nhận BHXH từ những ngƣời tham gia BHXH. Bên BHXH thƣờng là một tổ chức do Nhà nƣớc lập ra (ở một số nƣớc có thể do tƣ nhân, tổ chức kinh tế xã hội lập ra) và đƣợc Nhà nƣớc bảo trợ, nhận sự đóng góp của ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động, lập nên quỹ BHXH; - Bên đƣợc BHXH là bên đƣợc quyền nhận các loại trợ cấp khi phát sinh những nhu cầu BHXH, để bù đắp thiếu hụt về thu nhập do các loại rủi ro đƣợc bảo hiểm gây ra. Trong BHXH, bên đƣợc BHXH là ngƣời lao động tham gia BHXH và nhân thân của họ theo quy định của pháp luật, khi họ có phát sinh nhu cầu đƣợc BHXH do pháp luật quy định.
Qua đó có thể thấy đƣợc bản chất của BHXH thể hiện ở các điểm sau: - BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa, khi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH có điều kiện ra đời phát triển. Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng, sự ra đời và phát triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh tế, bởi lẽ một nền kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân thấp kém thì không thể có một hệ thống BHXH vững mạnh đƣợc. Còn khi kinh tế càng phát triển, hệ thống BHXH càng đa dạng, các chế độ BHXH ngày càng mở rộng, các hình thức BHXH ngày càng phong phú; 9 - Thực chất BHXH là sự tổ chức “đền bù” hậu quả của những “rủi ro xã hội” hoặc các sự kiện bảo hiểm. Sự đền bù này đƣợc thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác của quỹ BHXH.
Nhƣ vậy, BHXH cũng là quá trình phân phối lại thu nhập. Vì nếu xét trên phạm vi toàn xã hội, thì BHXH là một bộ phận của tổng sản phẩm trong nƣớc, đƣợc xã hội phân phối lại cho những thành viên khi phát sinh nhu cầu BHXH nhƣ ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, già yếu, chết. Còn nếu xét trong nội tại BHXH, sự phân phối của BHXH đƣợc thực hiện cả theo chiều dọc và chiều ngang. Phân phối theo chiều ngang là sự phân phối của chính bản thân ngƣời lao động theo thời gian (nghĩa là sự phân phối lại thu nhập của quá trình làm việc và quá trình không làm việc).
Phân phối theo chiều dọc là sự phân phối giữa những ngƣời khỏe mạnh cho ngƣời ốm đau, bệnh tật; giữa những ngƣời trẻ cho ngƣời già; giữa những ngƣời không sinh đẻ (nam giới) và ngƣời sinh đẻ (nữ giới); giữa những ngƣời có thu nhập cao và ngƣời có thu nhập thấp… Nói cách khác, đây là sự phân phối lại thu nhập theo không gian.