Chương 1 VON VÀ HIỆU QUA SU DỤNG VON CUA DOANH NGHIỆP 1. VON VÀ NGUON HÌNH THÀNH VON CUA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và đặc trưng của vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn kinh doanh Phạm trù Vốn kinh doanh (VKD) luôn gắn liền với khái niệm Doanh nghiệp.
Theo Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tai sản, có trụ sở giao dich, được đăng ký thành lập theo quy định cua pháp luật nhằm mục đích kinh doanh ”. Bất kì một doanh nghiệp nao muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) đều cần phải có ba yếu tố cơ bản: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Dé có được các yếu tô co bản này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một lượng vốn tiền tệ nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp chính là lượng vốn tiền tệ đó.
Vôn là một phạm trù kinh tê cơ bản, vôn găn kiên với nên tảng sản xuât hàng hoa. “Von là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp phải bo ra dé dau tự hình thành nên các tai san can thiết cho qua trình sản xuất kinh doanh cua doanh nghiệp ” (Giáo trình Tài chính Doanh nghiệp, trang 123) Theo khía cạnh kế toán, vốn được hiểu là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản mà doanh nghiệp đanh nắm giữ, có khả năng huy động, khai thác, và sử dụng vao hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Nói cách khác, vốn là biểu hiện bằng tiền của tài sản, còn tài sản là hình thái hiện vật của vốn ở từng thời điểm nhất định. (Giáo trình Tài chính Doanh nghiệp — Dai học KTOD, trang 123-124) Vi vay, có thé rút ra được, vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biéu hiện bang tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
Chỉ có những tai san có gia tri được sử dụng vào SXKD mới được coi là VKD. Đặc trưng của Vốn kinh doanh Dé quan lí và sử dụng có hiệu quả VKD đòi hỏi doanh nghiệp phải nhận thức đúng đắn các đặc trưng của vốn: - Vốn đại diện cho một lượng tài sản nhất định Theo khía cạnh kế toán, vốn được hiểu là biéu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản mà doanh nghiệp đanh nắm giữ, có khả năng huy động, khai thác, và sử dụng vao hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Nói cách khác, vốn là biểu hiện bằng tiền của tài sản, còn tài sản là hình thái hiện vật của vốn ở từng thời điểm nhất định. Trên hệ thống báo cáo tài chính, số vốn mà doanh nghiệp đang có tại từng thời điểm nhất định được thể hiện trên cả hai nửa của bảng cân đối kế toán.
Trong đó, nửa tài sản thể hiện các hình thái hiện vật của vốn, còn nửa nguồn vốn thé hiện các phương thức mà doanh nghiệp hiện đang sử dụng để hình thành nên số vốn đang có. (Nguồn “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp” trang 123-124) - Von phải được đưa vào sử dụng nham mục dich sinh lời Vốn được thể hiện dưới dạng hình thái là tiền, tuy nhiên tiền chi là dạng tiềm năng của vốn. Dé tiền trở thành vốn thì đồng tiền đó phải được đưa vào qua trình hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu sinh lời. - Vốn phải được tập trung và tích tụ đến một lượng vốn nhất định mới có thể phát huy được tác dụng Đề đầu tư vào hoạt động SXKD, cần phải tập trung một lượng vốn đủ lớn dé đầu tư thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu cho SXKD và chủ động trong các phương án SXKD.
Vi thế các doanh nghiệp bên cạnh việc tự huy động vốn còn cần phải tìm cách thu hút vốn từ nhiều nguồn khác nhau như phát hành cổ phiếu, liên doanh liên kết, phát hành trái phiếu. dé đáp ứng nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh ở một quy mô nhất định. - Vốn có giá trị về thời gian Tiền là hình thái thé hiện của vốn, vì vậy ngoài yếu tô đầu tư dé sinh lời, vốn cũng phải chịu ảnh hưởng của các yếu tố như cơ hội dau tư, lạm phát, chính trị. Các doanh nghiệp trên thị trường cần nắm bắt rõ các đặc trưng này của vốn dé có thé sử dụng hiệu quả vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như có các biện pháp bảo toàn vốn dé đối phó với các ảnh hưởng đó.
- Vốn phải gắn với chủ sở hữu: Trong nên kinh tế thị trường, vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định. Chỉ khi xác định rõ chủ sở hữu thi đông vôn mới được sử dụng, chi tiêu một cách tiệt kiệm, hiệu quả. - Vốn là hàng hóa đặc biệt: Vốn là hàng hóa đặc biệt có giá trị và giá trị sử dụng. Vốn không chỉ được thê hiện bằng tài sản hữu hình mà còn bao gồm cả những tài sản vô hình như giá trị thương hiệu của doanh nghiệp, bang phat minh sang ché, loi thé canh tranh của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp cần phải có biện pháp khai tạo lập và khai thác vốn dé đáp ứng được nhu cầu vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của từng don vi. Phân loại vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Vốn lưu động Vốn lưu động (VLĐ) của doanh nghiệp là toàn bộ những giá trị tài sản lưu động và tiền được doanh nghiệp đưa vào đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài những TSCD, doanh nghiệp cần phải có các đôi tượng trong sản xuất khác như nguyên vật liệu, công cụ dung cụ nhỏ thường dùng, ngoài ra còn các tải sản lưu động khác như tiền mặt, tiền trong thanh toán, hàng tồn kho, các loại chứng khoán ngắn hạn.
Tất cả các tài sản này là biểu hiện bằng hình thái của TSLĐ. Theo vai trò của từng loại VLD trong quá trình SXKD thì VLD được phân bô ở các khâu như sau: e VLD trong khâu dự trữ sản xuất: Gồm các nguyên vật liệu nhỏ, các công cụ dụng cụ nhỏ thường dùng, các loại bao bì đóng gói sản phẩm. e_ VLD trong khâu sản xuất: Gồm giá trị các sản phẩm do dang, các giá trị chờ kết chuyên e VLD trong khâu lưu thông: Gồm vốn bằng tiền, các khoản đầu tư trong ngắn hạn, cô phiếu, kí quỹ, giá trị hàng hóa trong kho chờ tiêu thụ, hàng tồn kho, các khoản phải thu,. Đặc điểm luân chuyển của VLĐ: VLĐ luôn vận động chuyển hóa qua nhiều hình thức khác nhau, bắt đầu từ hình thái tiền tệ sang hình thái dự trữ vật tư hàng hóa và cuối cùng lại trở về hình thái tiền tệ ban đầu của nó.
Quá trình SXKD của doanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng cho nên VLĐ. Quá trình SXKD của doanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng cho nên VLĐ cũng tuần hoàn không ngừng, được gọi là quá trình chu chuyên của VLD. Từ đặc điểm, phương thức chuyển dịch giá trị và vận động của VLD, doanh nghiệp cần quan tâm: - Doanh nghiệp cần xác định đúng số lượng VLĐ cần đầu tư vào mỗi chu kỳ SXKD dé có thé sử dụng va quản lý vốn nhằm mục đích giảm thiêu tồn đọng vốn cũng như thiếu vốn trong quá trình SXKD. - Doanh nghiệp cần khai thác các nguồn VLĐ, bên cạnh đó cần bảo toàn và sử dụng có hiệu quả các nguồn VLD đó.
Vốn cô định của doanh nghiệp Vốn cô định (VCĐ) là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định (TSCĐ) của doanh nghiệp. Đó là số vốn tiền tệ được doanh nghiệp đầu tư xây dựng, lắp đặt và mua sắm các TSCĐ hữu hình như nhà xưởng, máy móc, thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải. và cũng là số vốn được đầu tư cho các tài sản vô hình khác của doanh nghiệp. Đây là số vốn mang tính đầu tư ứng trước, được đưa vào vòng tuần hoàn sản xuất của doanh nghiệp nên nếu được sử dụng và quản lý một cách hiệu quả thì số vốn này sẽ không mất đi mà sẽ được thu hồi lại được sau khi doanh nghiệp tiêu thụ hàng hóa của mình.
Đặc điểm của VCD gắn liền với đặc điểm của TSCD. Trong quá trình luân chuyên, VCD được luân chuyển dan dần vào các chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sau nhiều chu kỳ sản xuất VCD, phan VCD được luân chuyên va trở thành một khoản chi phí sản xuất tương ứng với phần hao mòn của TSCD, hay còn gọi là chi phí khấu hao TSCD. VCD của doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng đối với một doanh nghiệp trong quá trình hình thành và phát triển, do đó việc thường xuyên sửa chữa, đổi mới, bố sung TSCD và tăng thêm VCD trong các doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc của lao động.
Vai trò của vốn kinh doanh của doanh nghiệp Trong cơ chế thị trường VKD có tam quan trọng đặc biệt nhưng cũng là môi trường dé VKD bộc lộ và phát huy vai trò của nó. - _ Trong quá trình sản xuât kinh doanh, von đóng vai trò đảm bảo cho hoạt động sản xuât kinh doanh được tiên hành thuận lợi theo mục tiêu đã định. Nó là một trong các yêu tô đầu vào cơ bản của sản xuât: vôn, sức lao động, tai nguyên, kỹ thuật công nghệ. - _ Trong mỗi một quy trình sản xuất, doanh nghiệp đều cần phải đầu tư một số vốn nhất định.
Chỉ khi xác định được đúng lượng vốn tương ứng với quy mô sản xuất cụ thê thì doanh nghiệp mới có thể quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả và đem lại lợi nhuận cao, cũng như không đề tình trạng ứ đọng vốn cũng như thiếu hụt vốn, nhằm mục đích sản xuất liên tục và thuận lợi. - _ Vốn kinh đoanh có vai trò như đòn bay tài chính, nó thúc đây hoạt động SXKD của doanh nghiệp hiệu quả, phát triển. Các doanh nghiệp trong thi trường sẽ không có lợi thế cạnh tranh cao khi đang trong tình trạng thiếu vốn, từ đó sẽ giảm uy tín của doanh nghiệp cũng như không thể khăng định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường. Trong thực tế, một doanh nghiệp có vốn lớn sẽ thu hút được nhiều quan hệ làm ăn, đảm bảo uy tín về các khoản thanh toán nợ của doanh nghiệp.
Nguồn hình thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1.