phần mở đầu và kết luận thì bố cục khóa luận gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng về hiệu quả sử dụng tại Công ty cổ phần VILACO. Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần VILACO. Sinh viên: Nguyễn Ánh Nguyệt - Lớp: QT1501T 1 Khoá luận tốt nghiệp Trong thời gian thực tập em nhận đƣợc sự hƣớng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các anh chị tại phòng kế toán tài chính của công ty cổ phần VILACO và sự chỉ bảo tận tình của cô giáo ThS.Trần Thị Nhƣ Trang đã giúp đỡ em hoàn thành bài khóa luận này.
Do trình độ của bản thân còn nhiều hạn chế và thời gian nghiên cứu có hạn nên trong quá trình tìm hiểu, phân tích và hoàn thành bài khóa luận không thể tránh khỏi những sai sót nhất định nên em kính mong có sự đóng góp và giúp đỡ của các thầy cô để bài bài khóa luận của em đƣợc hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên: Nguyễn Ánh Nguyệt - Lớp: QT1501T 2 Khoá luận tốt nghiệp CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI DOANH NGHIỆP 1.Tổng quan về vốn của doanh nghiệp 1.Khái niệm và đặc trƣng của vốn 1.Khái niệm vốn Vốn là yếu tố cơ bản và là tiền đề không thể thiếu của quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn đƣợc dùng để mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất nhƣ sức lao động, đối tƣợng lao động và tƣ liệu lao động. Theo quan điểm của Marx, “vốn (tƣ bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dƣ, là một đầu vào của quá trình sản xuất”.
Định nghĩa của Marx có tầm khái quát lớn nhƣng do bị hạn chế bởi những điều kiện khách quan lúc bấy giờ nên Marx đã quan niệm chỉ có khu vực sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dƣ cho nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay,vốn của doanh nghiệp đƣợc hiểu là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản đƣợc huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Khái niệm này không những chỉ ra vốn là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất mà còn đề cập tới sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong khu vực sản xuất mà bao gồm toàn bộ mọi quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục trong thời gian tồn tại của doanh nghiệp.Đặc trƣng cơ bản của vốn Thứ nhất: Vốn là đại diện cho một lƣợng giá trị tài sản, có nghĩa vốn là biểu hiện bằng giá trị của các tài sản hữu hình và vô hình nhƣ: nhà xƣởng, đất đai, máy móc, thiết bị, chất xám, thông tin,… Một lƣợng tiền phát hành đã thoát lý giá trị thực của hàng hoá để đƣa vào đầu tƣ, những khoản nợ không có khả năng thanh toán thì không đƣợc coi là vốn. Thứ hai: Vốn luôn vận động để sinh lời.
Sự vận động của vốn đƣợc khái quát nhƣ sau: T – H – SX – H’ – T’ vậy sẽ có các khả năng xảy ra : T’ > T : quá trình sản xuất kinh doanh có lợi nhuận T’= T : kinh doanh trong tình trạng hòa vốn T’ < T: quá trình sản xuất kinh doanh thua lỗ Sinh viên: Nguyễn Ánh Nguyệt - Lớp: QT1501T 3 Khoá luận tốt nghiệp Từ sơ đồ trên ta thấy vốn đƣợc biểu hiện bằng tiền nhƣng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn. Để biến thành vốn thì đồng tiền đó phải đƣợc đƣa vào hoạt động kinh doanh nhằm kiếm lời. Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhƣng điểm cuối cùng của chu kỳ phải là giá trị, là tiền và có giá trị lớn hơn điểm bắt đầu. Đây chính là nguyên lý đầu tƣ, sử dụng và bảo toàn vốn.
Thứ ba: Vốn không tách rời chủ sở hữu trong quá trình vận động, mỗi đồng vốn phải gắn với một chủ sở hữu nhất định. Nếu đồng vốn không rõ ràng về chủ sở hữu sẽ bị lãng phí, không hiệu quả. Ở đây cần phải phân biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn, tuỳ theo hình thức đầu tƣ mà ngƣời có quyền sở hữu và quyền sử dụng là đồng nhất hoặc riêng rẽ. Và dù trong trƣờng hợp nào, ngƣời sở hữu vốn vẫn đƣợc ƣu tiên đảm bảo quyền lợi và đƣợc tôn trong quyền sở hữu của mình.
Đây là một nguyên tắc để huy động và quản lý vốn. Thứ tư: Phải xem xét về yếu tố thời gian của đồng vốn, điều này có nghĩa là vốn có giá trị về mặt thời gian. Trong điều kiện cơ chế thị trƣờng, phải xem xét yếu tố thời gian vì ảnh hƣởng sự biến động của giá cả, lạm phát nên giá trị của đồng tiền ở mỗi thời kỳ là khác nhau. Thứ năm: Vốn phải đƣợc tập trung tích tụ đến một lƣợng nhất định mới có thể phát huy đƣợc tác dụng.
Doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm năng về vốn của mình mà còn phải tìm cách thu hút nguồn vốn từ bên ngoài nhƣ phát hành cổ phiếu, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp khác. Nhờ vậy vốn của doanh nghiệp sẽ tăng lên và đƣợc gom thành món lớn. Thứ sáu: Vốn đƣợc quan niệm là một loại hàng hoá đặc biệt trong nền kinh tế thị trƣờng. Những ngƣời có vốn có thể cho vay và những ngƣời cần vốn sẽ đi vay, có nghĩa là mua quyền sử dụng vốn của ngƣời có quyền sở hữu vốn.
Khi đó quyền sở hữu vốn không bị chuyển nhƣợng qua sự vay nợ. Ngƣời vay phải trả một tỷ lệ lãi suất hay chính là giá của quyền sử dụng vốn, vốn khi bán đi sẽ không mất quyền sở hữu mà chỉ mất quyền sử dụng trong một thời gian nhất định. Việc mua này diễn ra trên thị trƣờng tài chính, giá mua bán tuân theo quan hệ cung- cầu vốn trên thị trƣờng. Thứ bảy: Vốn không chỉ đƣợc biểu biện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà nó còn biểu hiện giá trị của những tài sản vô hình: Tài sản vô hình của doanh nghiệp có thể là vị trí địa lý, nhãn hiệu thƣơng mại, bản quyền phát minh sáng chế, các bí quyết về công nghệ.
Cùng với sự phát Sinh viên: Nguyễn Ánh Nguyệt - Lớp: QT1501T 4 Khoá luận tốt nghiệp triển của nền kinh tế thị trƣờng, tài sản vô hình ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Những đặc trƣng trên cho thấy rằng vốn kinh doanh đƣợc sử dụng cho sản xuất kinh doanh tức là mục đích tích luỹ chứ không phải là mục đích tiêu dùng nhƣ một số quỹ tiền tệ khác trong doanh nghiệp. Vốn kinh doanh đƣợc ứng ra trƣớc khi hoạt động sản xuất kinh doanh đƣợc bắt đầu. Và sau một chu kỳ hoạt động vốn kinh doanh phải đƣợc thu về để sử dụng cho các chu kỳ hoạt động tiếp theo.Tầm quan trọng của vốn trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Vốn là tiền đề cho sự ra đời của doanh nghiệp, là cơ sở để doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho ngƣời lao động, tiến hành đầu tƣ đổi mới trang thiết bị, công nghệ sản xuất kinh doanh.
Nếu thiếu vốn thì quá trình sản xuất kinh doanh sẽ bị ngừng trệ, đồng thời kéo theo hàng loạt các tác động tiêu cực khác dẫn đến bản thân doanh nghiệp và đời sống ngƣời lao động. Vai trò của vốn đƣợc thể hiện rõ nét qua các mặt sau: -Về mặt pháp lý: Một doanh nghiệp muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên là doanh nghiệp phải có một lƣợng vốn nhất định mà lƣợng vốn này tối thiểu phải bằng lƣợng vốn pháp định, khi đó địa vị pháp lý của doanh nghiệp mới đƣợc xác lập. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn của doanh nghiệp không đạt đƣợc điều kiện mà luật pháp quy định thì kinh doanh sẽ bị chấm dứt hoạt động nhƣ: phá sản hoặc sáp nhập doanh nghiệp. Nhƣ vậy có thể xem vốn là một trong những cơ sở quan trọng để đảm bảo sự tồn tại tƣ cách pháp nhân của một doanh nghiệp trƣớc pháp luật.
-Về mặt kinh tế: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh vốn là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nó không những đảm bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ để phục vụ cho quá trình sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thƣờng xuyên và liên tục. Điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng đặc biệt trong giai đoạn nền kinh tế phát triển theo xu hƣớng toàn cầu hóa nhƣ hiện nay. Ngoài ra vốn còn là một trong những điều kiện để sử dụng các nguồn tiềm năng hiện có nhƣ sức lao động, nguồn hàng hóa, mở rộng lƣu thông và tiêu thụ hàng hóa, là chất keo dính kết quá trình quan hệ kinh tế, là dầu bôi trơn cho cỗ máy kinh tế hoạt động.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn tham gia vào tất cả các khâu từ sản xuất đến tiêu thụ và cuối cùng nó lại trở về hình thái ban đầu là tiền tệ. Nhƣ vậy, sự luân chuyển vốn giúp Sinh viên: Nguyễn Ánh Nguyệt - Lớp: QT1501T 5 Khoá luận tốt nghiệp cho doanh nghiệp thực hiện đƣợc hoạt động tái sản xuất và sản xuất mở rộng của mình.Phân loại vốn trong doanh nghiệp 1.Căn cứ vào nguồn hình thành Vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu là số tiền của các chủ sở hữu, các nhà đầu tƣ đóng góp, số vốn này không phải là một khoản nợ. Các doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, không phả trả lãi suất. Vốn chủ sở hữu thể hiện quyền làm chủ của doanh nghiệp đối với tài sản hiện có trong doanh nghiệp.
Vốn chủ sở hữu đƣợc hình thành theo nhiều cách khác nhau nhƣng chủ yếu từ những nguồn sau: Đóng góp ban đầu của nhà đầu tƣ. Đối với các doanh nghiệp thuộc loại hình công ty cổ phần thì số vốn này là do các cổ đông trong công ty đóng góp.