Chương 1: Tổng quan về vốn kinh doanh. Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần cầu trục và thiết bị AVC. Chương 4: Các kết luận và các đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần cầu trục và thiết bị AVC.
Lê Thị Duyên- K42D3 Luận văn tốt nghiệp Luan van Trường ĐH Thương Mại 4 Khoa Kế toán- Kiểm toán CHƯƠNG II: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH 2.1 Một số khái niệm cơ bản: 2.1 Vốn kinh doanh: Trong nội dung hoạt động tài chính doanh nghiệp, việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là khâu quan trọng nhất quyết định tới mức độ tăng trưởng hay suy thoái của doanh nghiệp. Vậy vốn kinh doanh là gì? Dù nhìn ở góc độ nào thì các nhà kinh tế học trước đây đều giống nhau ở một điểm cơ bản: “Vốn là đầu vào của quá trình sản xuất”. Tuy nhiên, theo những quan điểm cũ vốn đồng nhất với tài sản của doanh nghiệp D.Begg nói “ Vốn là tài sản hữu hình của nền kinh tế, là hàng hoá hiện vật mà chúng ta có thể sờ thấy được và có tính lâu bền’” Thực chất ở đây vốn được biểu hiện bằng tiền, là giá trị tài sản mà doanh gnhiệp đang nắm giữ. Về tổng quát, vốn có thể được biểu hiện là toàn bộ giá trị ứng trước trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
Quá trình này diễn ra thường xuyên liên tục, do đó vốn cũng được vận động không ngừng, tạo thành vòng tuần hoàn vốn: T-----H-----SX-----H’-----T’ Vậy có thể khái quát lại:Vốn là giá trị được biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời. Trong nền kinh tế thị trường mọi thứ đều được tiền tệ hoá do đó đòi hỏi DN phải dó một lượng tiền ứng trước nhất định, được gọi là vốn kinh doanh. Vốn sau khi ứng ra được sử dụng vào sản xuất kinh doanh thì sau một chu kỳ hoạt động phải được thu về để ứng tiếp cho chu kỳ hoạt động tiếp theo. VKD không thể tiêu mất đi như một số quỹ khác trong doanh nghiệp, mất vốn đối với DN đồng nghĩa với nguy cơ phá sản.
Lê Thị Duyên- K42D3 Luận văn tốt nghiệp Luan van Trường ĐH Thương Mại 5 Khoa Kế toán- Kiểm toán 2.2 Vốn cố định: Là biểu hiện bằng tiền của giá trị những tài sản có thời gian sử dụng, thu hồi và luân chuyển giá trị từ một năm trở lên hoặc 1 chu kì kinh doanh của DN.3 Vốn lưu động: Là biểu hiện bằng tiền của giá trị những tài sản có thời gian sử dụng, thu hồi và luân chuyển giá trị dưới 1 năm hoặc 1 chu kì kinh doanh của DN.4 Vốn bằng tiền : Là loại vốn lưu động bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền mặt gửi ngân hang, các khoản vốn trong thanh toán.5 Khoản phải thu: Là một loại vốn lưu động thể hiện số vốn lưu động mà công ty bị khách hàng hoặc các đối tượng khác chiếm dụng trong quá trình thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh.6 Hàng tồn kho: Hàng tồn kho là hàng hóa DN dự trữ để sản xuất hoặc để bán trong 1 kỳ nhất định.7 Hiệu quả sử dụng VKD: Hiệu quả sử dụng VKD là một chỉ tiêu phản ánh chất lượng sử dụng VKD của DN, được xác định bằng cách xác định bằng cách so sánh kết quả đầu ra với chi phí đầu vào.8 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế - VKD: Được tính bằng tỉ số giữa lợi nhuận sau thuế với VKD bình quân sử dụng trong kì, phản ánh số đồng lợi nhuận sau thuế được tạo ra từ 1 đồng VKD trong kỳ. Lê Thị Duyên- K42D3 Luận văn tốt nghiệp Luan van Trường ĐH Thương Mại 6 Khoa Kế toán- Kiểm toán 2.2 Một số lý thuyết về hiệu quả sử dụng VKD trong các DN: 2. Đặc điểm vốn kinh doanh. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bất cứ một DN nào cũng phải có vốn, đó là một tiền đề cần thiết.
Trong thời kỳ bao cấp, phần lớn VKD của các DN được Nhà nước cấp phát hoặc cho vay với lãi suất thấp lên các DN không quan tâm đến tính hàng cũng như đặc trưng của vốn. Trong nền kinh tế thị trường vốn là yếu tố số 1 của mọi quá trình sản xuất kinh doanh, số vốn đó không tự nhiên mà có. Vì vậy để quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả, chúng ta cần phải nhận thức đủ hơn về những đặc trưng sau đây: - Vốn được biểu hiện bằng một lượng giá trị thực của những tài sản được sử dụng để sản xuất ra một lượng giá trị sản phẩm khác. Vốn chính là hàng hoá được biểu hiện dưới dạng nhà xưởng máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, chất xám.
- Vốn vận động phải sinh lời: Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng để biến thành vốn thì đồng tiền đó phải vận động sinh lời. Tiền là dạng tiềm năng của vốn trong quá trình vận động, đồng vốn được biểu hiện dưới những hình thái khác nhau: Tiền, vật tư, hàng hoá. Nhưng đến khi kết thúc một vòng tuần hoàn vốn lại quay về hình thái tiền tệ nhưng phải lớn hơn thì sản xuất kinh doanh mới có lãi. Nếu đồng vốn bị ứ đọng, tài sản cố định không cần dùng, tài nguyên, sức lao động không được sử dụng, tiền, vàng bỏ vào dự trữ hoặc các khoản nợ khế đọng khó đòi.chỉ là những đồng vốn ''chết''.
Mặt khác tiền có vận động nhưng lại bị thất tán, không quay về nơi xuất phát với giá trị lớn hơn thì đồng vốn cũng không được bảo đảm chu kỳ vận động tiếp theo bị ảnh hưởng. - Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định thì mới có thể phát huy tác dụng. Không có đủ lượng vốn nhất định thì không thể đáp ứng được yêu cầu tối thiểu đặt ra trong sản xuất kinh doanh. Lê Thị Duyên- K42D3 Luận văn tốt nghiệp Luan van Trường ĐH Thương Mại 7 Khoa Kế toán- Kiểm toán - Vốn phải có giá trị về thời gian: Điều này có nghĩa là phải xem xét yếu tố thời gian của đồng vốn.
Trong cơ chế kế hoạch tập trung vấn đề này không được xem xét kỹ lưỡng vì Nhà nước đã tạo ra sự ổn định của đồng tiền một cách giả tạo trong nền kinh tế. Trong điều kiện cơ chế thị trường đều phải xem xét giá trị thời gian của tiền vốn, bởi vì do ảnh hưởng của sự biến động giá cả, lạm phát sức mua của đồng tiền ở những thời điểm khác nhau cũng khác nhau. - Vốn phải gắn với chủ sở hữu: Mỗi đồng tiền vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định. Trong nền kinh tế thị trường không thể có những đồng vốn vô chủ, bởi lẽ những đồng vốn vô chủ gây ra sự chi tiêu lãng phí kém hiệu quả.
Khi xác định được chủ sở hữu thì đồng vốn mới được chi tiêu tiết kiệm có hiệu quả. - Vốn phải được quan niệm là hàng hoá đặc biệt. Những người có vốn có thể đưa vốn vào thị trường, những người cần tới vốn, tới thị trường vay nghĩa là người đi vay vốn được quyền sử dụng vốn của người chủ sở hữu hay quyền sở hữu của đồng vốn không di chuyển nhưng quyền sử dụng vốn được chuyển nhượng qua sự vay nợ; người vay phải trả một tỷ lệ lãi suất thoả thuận đối với người cho vay. Như vậy khác với hàng hoá thông thường, hàng hoá vốn khi được bán đi thì người bán không bị mất quyền sở hữu mà chỉ bị mất quyền sử dụng.
Người mua được quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định và họ phải trả cho người chủ sở hữu vốn một khoản tiền, đó là lãi suất. Việc mua bán vốn diễn ra trên thị trường tài chính, do đó lãi suất cũng phải tuân theo quan hệ cung cầu của thị trường. Trong nền kinh tế thị trường vốn không những chỉ biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà nó còn biểu hiện bằng những tài sản vô hình như: vị trí kinh doanh, nhãn hiệu, bản quyền phát minh sáng chế, bí quyết công nghiệp, uy tính doanh nghiệp. Những tài sản vô hình này góp phần vô cùng quan trọng trong quyết định đầu tư và phát triển vốn của doanh nghiệp 2.2 Phân loại vốn kinh doanh: Để nhận thức đúng đắn và đầy đủ về những hình thức tồn tại của VKD, người ta phải tiến hành phân loại vốn kinh doanh theo những tiêu thức khác nhau, Lê Thị Duyên- K42D3 Luận văn tốt nghiệp Luan van Trường ĐH Thương Mại 8 Khoa Kế toán- Kiểm toán để từ đó có thể quản lý và khai thác triệt để vốn cũng như giúp cho việc phát triển tiềm năng về vốn, có thể căn cứ vào những tiêu thức khác nhau mà ta có những loại vốn khác nhau như sau: 2.Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển: - Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền của giá trị những tài sản có thời gian sử dụng, thu hồi, luân chuyển giá trị từ một năm trở lên hay qua nhiều kì kinh doanh của doanh nghiệp.
- Vốn lưu động: là biểu hiện bằng tiền của giá trị những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp có thời gian sử dụng, thu hồi. luân chuyển giá trị trong vòng 1 năm hay 1chu kì kinh doanh.Căn cứ vào nguồn hình thành: - Vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ DN. Một phần cơ bản của số vốn này là do các chủ sở hữu doanh nghiệp góp khi thành lập DN và góp vốn bổ xung sau khi DN được thành lập, phần còn lại được tích lũy và bổ xung từ lợi nhuận của DN. Nguồn này bao gồm; + Vốn góp của các chủ sở hữu DN: để thành lập DN, các bên tham gia thành lập DN phải tiến hành góp vốn.
Tổng số vốn họ góp được ghi vào trong điều lệ của DN và được gọi là vốn điều lệ. Nếu pháp luật có quy định về vốn pháp định thì vốn điều lệ của DN không được thấp hơn vốn pháp đinh. + Lợi nhuận để lại và các quỹ của DN: Sau mỗi chu kì kinh doanh, nếu kết quả kinh doanh là doanh nghiệp có lợi nhuận, DN sẽ tiến hành phân phối lợi nhuận này theo đúng cơ chế hiện hành của Nhà nước và những đòi hỏi hiện tại của DN.