CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm của tài sản ngắn hạn 1. Khái niệm Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích trong kinh tế trong tương lai, bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.
Trong đó, tài sản ngắn hạn có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp, quyết định đến tính ổn định trong hoạt động sản xuất kinh doanh và thương mại của doanh nghiệp. Theo tác giả TS.Lê Thị Xuân đã đưa ra định nghĩa: “Tài sản ngắn hạn là những tài sản có thời hạn thu hồi vốn thanh toán trong vòng một năm hoặc chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp”. Theo thông tư 200/2014/TT-BTC: “Tài sản ngắn hạn phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác có thể chuyển đổi thành tiền, có thể bán hay sử dụng trong vòng không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo, gồm: Tiền, các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác". Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là tài sản do doanh nghiệp sở hữu và quản lý, có thời gian sử dụng, quay vòng và thu hồi vốn trong một kỳ hoặc một năm hoạt động.
Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới dạng tiền hoặc hiện vật (nguyên vật liệu, hàng hóa), các khoản đầu tư ngắn hạn và các khoản phải thu. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn Một trong những đặc điểm dễ nhận biết của tài sản ngắn hạn đó là vận động không ngừng, luôn thay đổi hình thái biểu hiện qua các khâu của quá trình kinh doanh và giá trị của tài sản ngắn hạn được chuyển hóa toàn bộ vào giá trị sản phẩm khi kết thúc một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Lê Thị Xuân, nêu rõ đặc điểm của tài sản ngắn hạn: 8 - Tài sản ngắn hạn liên tục thay đổi hình thái biểu hiện trong suốt quá trình kinh doanh, đối với các doanh nghiệp sản xuất hình thái TSNH là T-H-SX-H'-T'; đối với các doanh nghiệp thương mại, hình thái TSNH là T - H - Τ'. - Giá trị tài sản ngắn hạn được chuyển dịch toàn bộ một lần vào mỗi chu kỳ kinh doanh. - Tài sản ngắn hạn hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh.
Toàn bộ giá trị tài sản ngắn hạn được thu hồi sau khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh tại doanh nghiệp. - Tài sản ngắn hạn có tính chất thay đổi hình dạng, thay đổi liên tục trong toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì nó là ngắn hạn nên nó có thể chuyển từ tiền mặt thành vật chất có giá trị và ngược lại. Phân loại tài sản ngắn hạn Công tác quản lý tài sản ngắn hạn muốn tiến hành khoa học và hiệu quả đòi hỏi nhà quản lý phải nắm được thành phần và kết cấu của tài sản ngắn hạn, từ đó có các biện pháp điều chỉnh và nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn.
Tùy theo ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh mà TSNH của doanh nghiệp được cấu thành bởi các bộ phận khác nhau. Phân loại theo hình thái biểu hiện Căn cứ vào hình thái biểu hiện, tài sản ngắn hạn được chia thành 2 loại. Thứ nhất, tiền và các khoản phải thu và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn. + Tiền: Gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.
Đây là loại tài sản có tính lỏng cao nhất, có thể dùng để dự trữ và đảm bảo khả năng thanh toán nhanh cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, loại tài sản này không hoặc gần như không sinh lời, bởi vậy việc giữ tiền mặt ở mức độ nào để vừa đảm bảo khả năng thanh khoản vừa tận dụng được các cơ hội đầu tư là một vấn đề cần các nhà quản trị quan tâm. + Các khoản phải thu: Gồm các khoản phải thu từ khách hàng, ứng trước cho nhà cung cấp, phải thu nội bộ,. 9 + Đầu tư tài chính ngắn hạn: Là các khoản đầu tư của doanh nghiệp ra bên ngoài được thực hiện dưới hình thức cho vay, cho thuê, góp vốn liên doanh, mua bán chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu,.) có thời gian sử dụng, thu hồi vốn không quá một năm.
Thứ hai, hàng tồn kho. + Hàng tồn kho trong khâu dự trữ: Bao gồm vật tư dự trữ như nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế và công cụ dụng cụ, vật liệu bao bì đóng gói. phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. + Hàng tồn kho trong khâu sản xuất: Các sản phẩm dở dang, các loại nguyên liệu nằm tại từng công đoạn của dây chuyền sản xuất.
+ Hàng tồn kho trong khâu tiêu thụ: Bao gồm thành phẩm, là giá trị những sản phẩm đã sản xuất xong, đạt tiêu chuẩn và đã được nhập kho. Cách phân loại này giúp doanh nghiệp quản lý, đánh giá được các nhân tố ảnh hưởng đến tài sản ngắn hạn là tiền và là hiện vật của doanh nghiệp. TSNH bằng tiền thì thường bị ảnh hưởng bởi tỷ giá ngoại tệ, lãi suất ngân hàng, còn TSNH bằng hiện vật thì ảnh hưởng bởi các nhân tố như biến động giá cả nguyên vật liệu đầu vào, giá bán hàng hóa, rủi ro trong khâu tiêu thụ. Từ đó, nhà quản trị có thể đưa ra các quyết định sử dụng tài sản ngắn hạn hiệu quả hơn.
Dựa vào các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh TSNH trong giai đoạn dự trữ: Là toàn bộ tài sản của doanh nghiệp trong giai đoạn dự trữ, không phân biệt hình thức, bao gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường, vật liệu chính, phụ, vật liệu, nhiên liệu, hàng tồn kho, công cụ, dụng cụ, trả trước cho người bán. Các tài sản lưu động này đảm bảo cho quá trình sản xuất và hoạt động liên tục của doanh nghiệp. TSNH trong khâu sản xuất: Là toàn bộ tài sản của doanh nghiệp trong khâu sản xuất, bao gồm các sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, chí phí sản xuất kinh doanh (SXKD) dở dang, chi phí trả trước, các khoản chi phí chờ kết chuyển. được sử dụng trong các quá trình sản xuất hình thành nên sản phẩm, đảm bảo cho các công đoạn sản xuất không bị gián đoạn.
10 TSNH trong khâu lưu thông: Là toàn bộ tài sản của doanh nghiệp trong khâu lưu thông, bao gồm thành phẩm, hàng hóa mua ngoài, hàng gửi bán, vốn bằng tiền và các khoản vốn có thể dùng trong thanh toán. Phân loại TSNH gắn với các khâu của quá trình SXKD giúp các nhà quản lý doanh nghiệp xác định được quy mô và cơ cấu của TSNH trong từng khâu. Từ đó nhà quản lý có thể phát hiện những bất ổn cũng như đánh giá được sự hợp lý hay không hợp lý trong việc phân bổ TSNH tại từng khâu để có những cân nhắc và điều chỉnh cho phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng. Phân loại theo các khoản mục tiêu trên bảng cân đối kế toán Theo thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp, TSNH bao gồm các khoản mục sau đây: Tiền và các khoản tương đương tiền gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, các khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi không quá 3 tháng kể từ ngày đầu tư có khả năng dễ dàng chuyển đổi thành một lượng tiền xác định và không có rủi ro trong khi chuyển đổi.
Đầu tư tài chính ngắn hạn bao gồm: Chứng khoán kinh doanh, dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh, các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn và các khoản đầu tư khác có kỳ hạn còn lại không quá 12 tháng kể từ thời điểm báo cáo (tiền gửi có kỳ hạn, trái phiếu, thương phiếu). Các khoản phải thu ngắn hạn: Chủ yếu bao gồm các khoản phải thu từ khách hàng, trả trước cho người bán, phải thu nội bộ, phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng, phải thu về cho và và phải thu ngắn hạn khác. Hàng tồn kho gồm có: Hàng tồn kho và dự phòng giảm giá + Hàng tồn kho: Hàng mua đang đi đường, nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, thành phẩm, hàng hóa, hàng gửi đi bán. + Dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
Tài sản ngắn hạn khác: Những loại này thường có tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp, bao gồm: Chi phí trả trước ngắn hạn; thuế 11 giá trị gia tăng được khấu trừ; thuế và các khoản phải thu Nhà nước; giao dịch mua bán lại trái phiếu Chính phủ và tài sản ngắn hạn khác. Cách phân loại này giúp doanh nghiệp nắm bắt được rõ từng từng thành phần trong kết cấu của tài sản ngắn hạn. Doanh nghiệp có thể dễ dàng kiểm tra, xác định khoản mục nào cần ưu tiên quản lý và tài trợ để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cho phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp. Đây cũng là cách phân loại mà hiện nay nhiều doanh nghiệp đang áp dụng.
Vai trò của tài sản ngắn hạn Dù hoạt động trong lĩnh vực nào, doanh nghiệp cũng cần có tài sản ngắn hạn để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh và cung cấp dịch vụ của mình. Do đó, tài sản ngắn hạn có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn có những vai trò chủ yếu như sau: Một là, tài sản ngắn hạn là nhân tố quan trọng giúp quá trình sản xuất của doanh nghiệp diễn ra bình thường và liên tục từ khâu nhập nguyên nhiên vật liệu, sản xuất hàng hóa đến tiêu thụ sản phẩm. Hàng tồn kho đảm bảo phục vụ nhu cầu sản xuất, mở rộng thị phần, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Hai là, tài sản ngắn hạn đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cho doanh nghiệp. Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn thấp, kéo dài thường xuất hiện dấu hiệu rủi ro tài chính, nguy cơ phá sản vẫn có thể xảy ra kể cả trong điều kiện chỉ tiêu khả năng thanh toán tổng quát cao.