Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu trung tâm của doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị tài sản. Để hiện thực hóa mục tiêu này, công tác quản trị tài sản và nguồn vốn đòi hỏi phải được thiết lập trên cơ sở khoa học và hợp lý. Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh hay đầu tư đều đòi hỏi nguồn vốn, và vốn được biểu hiện trực tiếp dưới hình thái tài sản. Việc khai thác và sử dụng tài sản hiệu quả giúp hạn chế lãng phí, tránh tình trạng đầu tư dàn trải, đồng thời góp phần gia tăng doanh thu và tiết giảm chi phí sản xuất kinh doanh.

Quá trình luân chuyển của tài sản ngắn hạn (TSNH) vận động liên tục qua các khâu: từ việc sử dụng tiền để mua sắm nguyên, nhiên vật liệu phục vụ sản xuất, tiến hành chế tạo sản phẩm, cho đến khâu tiêu thụ và thu hồi tiền về. Đối với Công ty Cổ phần Thiết bị nâng Hải Hà – một doanh nghiệp hoạt động chính trong lĩnh vực sản xuất thiết bị nâng, hạ và bốc xếp, TSNH luôn chiếm tỷ trọng chi phối trong tổng tài sản. Tuy nhiên, giai đoạn 2013–2017 ghi nhận hiệu quả sử dụng TSNH của công ty có xu hướng suy giảm dưới tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Trước thực trạng đó, tác giả Dương Thị Văn (sinh viên lớp K17CLC-TC, Khoa Tài chính, Học viện Ngân hàng) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: "Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty cổ phần thiết bị nâng Hải Hà" dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Thanh Phương (tháng 5/2018).

Khóa luận xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Khái quát một số cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Thiết bị nâng Hải Hà giai đoạn 2013–2017.
  3. Đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Thiết bị nâng Hải Hà.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. (Lưu ý: trong phần mở đầu của văn bản có sự nhầm lẫn kỹ thuật khi xuất hiện cụm từ "công ty trách nhiệm hữu hạn Lục Nam", nhưng nội dung dữ liệu xuyên suốt toàn bộ khóa luận tập trung nghiên cứu Công ty Cổ phần Thiết bị nâng Hải Hà).
  • Phạm vi không gian: Công ty Cổ phần Thiết bị nâng Hải Hà (trụ sở tại số 6, ngách 24, ngõ 420, phố Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu tài chính thu thập và phân tích trong giai đoạn 5 năm, từ năm 2013 đến năm 2017 (phần mở đầu văn bản ghi 2011–2015, song toàn bộ hệ thống bảng biểu và phân tích thực tế đều sử dụng chuỗi thời gian 2013–2017).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các giáo trình chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp và Phân tích báo cáo tài chính:

  • Khái niệm và đặc điểm TSNH: Tác giả trích dẫn định nghĩa từ PGS.TS. Nguyễn Thị Đông (2008), PGS. Lưu Thị Hương (2003, 2013), PGS.TS. Trần Ngọc Thơ (2009), GS.TS. Nguyễn Năng Phúc (2013), và PGS.TS. Bùi Văn Vần (2013). TSNH được xác định là những tài sản thuộc quyền sở hữu, quản lý của đơn vị, có thời gian luân chuyển, thu hồi trong vòng 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường, bao gồm tiền, tương đương tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn và hàng tồn kho.
  • Tiêu thức phân loại: Phân loại theo tính thanh khoản giảm dần trên Bảng cân đối kế toán và phân loại theo các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh (khâu dự trữ, khâu sản xuất, khâu lưu thông).
  • Các mô hình quản trị tài chính ngắn hạn:
    • Quản trị tiền mặt: Mô hình Baumol và mô hình Miller–Orr (xác định khoảng dao động $d$ và giới hạn trên $H^* = 3Z^* - 2L$ dựa trên chi phí giao dịch chuyển đổi chứng khoán, phương sai thu chi ngân quỹ và lãi suất).
    • Quản trị hàng tồn kho: Mô hình điểm đặt hàng kinh tế (EOQ - Economic Order Quantity) xác định sản lượng đặt hàng tối ưu $Q^* = \sqrt{\frac{2DO}{C}}$ dựa trên sự đánh đổi giữa chi phí đặt hàng và chi phí lưu kho; công thức xác định điểm đặt hàng mới kèm mức dự trữ an toàn; mô hình quản trị dự trữ đúng thời điểm (Just-In-Time - JIT).
    • Quản trị tín dụng thương mại: Phân tích chính sách tín dụng tối ưu, đánh đổi giữa doanh thu biên và chi phí thu hồi nợ/chi phí cơ hội.
    • Cân bằng tài chính: Phân tích vốn lưu động ròng ($NWC = TSNH - Nợ\ ngắn\ hạn$) nhằm đánh giá mức độ ổn định và an toàn của nguồn tài trợ.
  • Kinh nghiệm thực tiễn: Khóa luận phân tích bài học quản trị TSNH tại hai doanh nghiệp niêm yết lớn năm 2017 là Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk - VNM) với tỷ trọng tiền mặt thấp (4,7%), tập trung 52,01% TSNH vào trái phiếu HDBank để sinh lời tài chính; và Tập đoàn Vingroup (VIC) với tiền mặt chiếm 8,12%, hàng tồn kho chiếm 55,92% TSNH (chủ yếu là bất động sản đang xây dựng dở dang).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả áp dụng bao gồm:

  • Phương pháp so sánh: So sánh theo chiều ngang giữa các năm với năm gốc để xác định quy mô biến động tuyệt đối và tốc độ tăng trưởng tương đối (%) của các chỉ tiêu tài chính.
  • Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng các đại lượng số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân để mô tả thực trạng cơ cấu và hiệu quả sử dụng tài sản.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp trích xuất từ Báo cáo tài chính đã lập (Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh) của Công ty Cổ phần Thiết bị nâng Hải Hà từ năm 2013 đến năm 2017, kết hợp tài liệu nội bộ do Phòng Kế toán - Tài chính và Phòng Hành chính cung cấp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

Chương này tập trung làm rõ bản chất kinh tế của TSNH, chỉ rõ đặc tính vận động không ngừng, chuyển toàn bộ giá trị một lần vào sản phẩm và có tính thanh khoản cao. Tác giả xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH gồm:

  • Tỷ suất sinh lời của TSNH ($LNST / TSNHBQ$);
  • Số vòng quay TSNH ($Doanh\ thu\ thuần / TSNHBQ$);
  • Suất hao phí của TSNH so với doanh thu và so với LNST;
  • Số vòng luân chuyển và thời gian một vòng luân chuyển của TSNH;
  • Hệ số đảm nhiệm của TSNH.

Đồng thời, chương I phân tích các nhân tố bên trong (đặc điểm sản xuất kinh doanh, năng lực quản trị tiền mặt, tồn kho, khoản phải thu, cơ cấu vốn, trình độ nhân sự) và các nhân tố bên ngoài (chu kỳ kinh tế, chính sách tín dụng, lạm phát, tỷ giá, tiến bộ khoa học kỹ thuật, rủi ro tự nhiên). Từ bài học thực tế của Vinamilk và Vingroup, tác giả chỉ ra yêu cầu cân bằng giữa khả năng thanh khoản và mục tiêu sinh lời.

Chương II: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Thiết bị nâng Hải Hà

Chương II giới thiệu tổng quan về doanh nghiệp: Công ty Cổ phần Thiết bị nâng Hải Hà thành lập ngày 17/03/2012 theo Giấy phép kinh doanh số 0105824854 do Chi cục Thuế quận Thanh Xuân quản lý, vốn điều lệ ban đầu 10 tỷ đồng với 10 lao động, do bà Bùi Lan Hương làm Giám đốc. Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu là sản xuất các thiết bị nâng, hạ và bốc xếp (mã ngành C28160). Bộ máy tổ chức vận hành theo mô hình trực tuyến - chức năng gồm 5 phòng ban: Phòng Kế toán - Tài chính, Phòng Hành chính, Phòng Kinh doanh, Phòng Kỹ thuật, Phòng Sản xuất.

Về kết quả kinh doanh 2013–2017: Doanh thu thuần tăng trưởng liên tục từ 2.242 triệu đồng (2013) lên 4.028 triệu đồng (2014, tăng 79,62%), đạt 5.693 triệu đồng (2015, tăng 41,34%), 6.497 triệu đồng (2016, tăng 12,12%) và đạt mức tăng 8,9% trong năm 2017. Lợi nhuận sau thuế biến động cùng chiều với quy mô doanh thu: đạt 56,279 triệu đồng (2013); 62,917 triệu đồng (2014); 76,197 triệu đồng (2015); 89,599 triệu đồng (2016) và 97,580 triệu đồng (2017). Tuy nhiên, tốc độ tăng lợi nhuận có dấu hiệu chậm lại do chi phí giá vốn và chi phí quản lý kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn.

Về cơ cấu tài sản: TSNH chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng tài sản của công ty suốt giai đoạn nghiên cứu:

  • Năm 2013: TSNH chiếm 100% (146,030 triệu đồng, công ty chưa hình thành tài sản dài hạn).
  • Năm 2014: TSNH chiếm 94,58% (270,206 triệu đồng), tài sản dài hạn chiếm 5,42% (15,495 triệu đồng).
  • Năm 2015: TSNH chiếm 99,22% (635,513 triệu đồng).
  • Năm 2016: TSNH chiếm 94,24% (618,548 triệu đồng).
  • Năm 2017: TSNH chiếm 90,93% (602,653 triệu đồng).

Trong nội bộ TSNH, tiền và các khoản tương đương tiền chiếm tỷ trọng cao nhất nhưng biến động phức tạp: 91,2% (2013), giảm xuống 38,3% (2014), tăng vọt lên 54,43% (2015), 76,66% (2016, đạt 474,185 triệu đồng) và đạt 462,837 triệu đồng năm 2017. Các khoản phải thu ngắn hạn tăng mạnh trong năm 2014 (166,716 triệu đồng) và 2015 (225,577 triệu đồng) do áp dụng chính sách nới lỏng tín dụng và tăng trả trước cho người bán vì khan hiếm nguồn cung máy móc, sau đó giảm về 76,706 triệu đồng năm 2016 (chiếm 12,4%). Hàng tồn kho năm 2013 là 7,024 triệu đồng, năm 2014 bằng 0 do bán hết hàng, sau đó tăng lên 64,043 triệu đồng (2015) và 65,816 triệu đồng (2016), chiếm 11,05% vào năm 2017. Khoản mục đầu tư tài chính ngắn hạn hoàn toàn không phát sinh (0%).

Bảng tổng hợp chỉ tiêu hiệu quả sử dụng TSNH và khả năng thanh toán (2013–2017):

Chỉ tiêu phân tích Đơn vị 2013 2014 2015 2016 2017
Số vòng quay TSNH Vòng 15,83 19,36 12,57 10,33 11,56
Hệ số sinh lời TSNH Lần 0,40 0,30 0,17 0,14 0,16
Suất hao phí TSNH so với doanh thu Lần 0,06 0,05 0,08 0,10 0,09
Suất hao phí TSNH so với LNST Lần 2,52 3,31 5,94 7,00 6,26
Vòng quay tiền mặt Vòng 20,20 34,04 25,34 15,80 15,06
Thời gian 1 vòng quay tiền mặt Ngày 17,83 10,58 14,21 22,78 24,23
Vòng quay khoản phải thu Vòng 83,16 46,70 29,03 42,87 95,28
Kỳ thu tiền bình quân Ngày 4,33 7,71 12,40 8,40 3,83
Vòng quay hàng tồn kho Vòng 579,64 1005,75 160,86 89,76 95,52
Thời gian 1 vòng quay hàng tồn kho Ngày 0,62 0,36 2,24 4,01 3,77
Hệ số thanh toán hiện hành Lần 4,16 2,42 1,87 2,32 2,62
Hệ số thanh toán nhanh Lần 3,96 2,42 1,68 2,07 2,33
Hệ số thanh toán tức thời Lần 3,80 0,93 1,02 1,78 2,02

Phân tích số liệu cho thấy hiệu quả tổng thể sử dụng TSNH của công ty suy giảm: vòng quay TSNH giảm từ đỉnh 19,36 vòng (2014) xuống 10,33 vòng (2016) và đạt 11,56 vòng (2017). Hệ số sinh lời của TSNH giảm mạnh từ 0,40 lần (2013) xuống 0,14 lần (2016) trước khi phục hồi nhẹ lên 0,16 lần (2017). Suất hao phí TSNH so với LNST tăng từ 2,52 lần lên 6,26 lần. Điểm tích cực là các chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện hành, thanh toán nhanh và thanh toán tức thời luôn lớn hơn 1, bảo đảm an toàn thanh toán ngắn hạn, song việc nắm giữ lượng tiền mặt quá lớn (thời gian vòng quay tiền mặt lên tới 24,23 ngày năm 2017) đã làm gia tăng chi phí cơ hội.

Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty Cổ phần Thiết bị nâng Hải Hà

Trên cơ sở định hướng phát triển ngắn hạn (mở rộng mảng dịch vụ bảo dưỡng, nâng cao chất lượng kỹ thuật, mở rộng mạng lưới khách hàng) và định hướng dài hạn, tác giả đề xuất 7 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Xác định chính xác nhu cầu TSNH: Xây dựng kế hoạch tài chính ngắn hạn, dự báo dòng tiền ra vào theo chu kỳ kinh doanh để tránh đầu tư dư thừa vào TSNH.
  2. Quản lý hiệu quả sử dụng tiền mặt: Thiết lập mức dự trữ tiền mặt tối ưu thông qua việc ứng dụng mô hình Miller–Orr; phần vốn nhàn rỗi cần xem xét gửi tiết kiệm có kỳ hạn hoặc đầu tư tài chính ngắn hạn nhằm tạo thêm doanh thu tài chính.
  3. Quản lý chặt chẽ các khoản phải thu: Xây dựng tiêu chuẩn bán chịu rõ ràng, phân loại khách hàng theo mức độ tín nhiệm, áp dụng chính sách chiết khấu thanh toán để thu hồi nợ sớm và hạn chế nợ khó đòi.
  4. Tăng cường quản lý hàng tồn kho: Áp dụng mô hình đặt hàng hiệu quả EOQ nhằm cân đối chi phí đặt hàng và chi phí lưu kho; xác định điểm đặt hàng mới hợp lý nhằm duy trì lượng dự trữ an toàn mà không làm ứ đọng vốn.
  5. Hoàn thiện công tác nâng cao trình độ cán bộ quản lý và công nhân: Đào tạo kỹ năng phân tích tài chính cho cán bộ quản lý và bồi dưỡng tay nghề cho công nhân sản xuất để giảm tỷ lệ hao hụt nguyên vật liệu.
  6. Áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ: Đầu tư đổi mới công nghệ gia công, lắp ráp máy móc nhằm hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm thiết bị nâng.
  7. Một số kiến nghị vĩ mô: Đề xuất đối với các cơ quan quản lý Nhà nước (hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cơ khí) và các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại (tạo điều kiện tiếp cận các gói tín dụng ngắn hạn với lãi suất ưu đãi).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã trích xuất và phân tích toàn diện chuỗi dữ liệu tài chính 5 năm thực tế của Công ty Cổ phần Thiết bị nâng Hải Hà:

  • Doanh thu thuần tăng trưởng từ 2,242 tỷ đồng (2013) lên khoảng 7,07 tỷ đồng (2017); LNST tăng từ 56,279 triệu đồng lên 97,580 triệu đồng.
  • Bóc tách cấu trúc tài sản cho thấy TSNH chiếm trên 90% tổng tài sản (năm 2013 chiếm 100%, năm 2015 chiếm 99,22%, năm 2017 chiếm 90,93%).
  • Nhận diện chính xác sự suy giảm trong hiệu suất tài chính: số vòng quay TSNH giảm từ 19,36 vòng (2014) xuống 11,56 vòng (2017); hệ số sinh lời TSNH giảm từ 0,40 lần (2013) xuống 0,16 lần (2017); suất hao phí TSNH so với LNST tăng 150% (từ 2,52 lần lên 6,26 lần).
  • Chỉ ra nghịch lý trong quản trị thanh khoản: chỉ tiêu thanh toán rất an toàn (hệ số thanh toán hiện hành năm 2017 đạt 2,62 lần; thanh toán tức thời đạt 2,02 lần) nhưng tồn đọng lượng tiền mặt quá lớn (chiếm 76,66% TSNH năm 2016 và 462,837 triệu đồng năm 2017), khiến vòng quay tiền mặt chậm (thời gian quay kéo dài lên 24,23 ngày).

Về mặt đóng góp, công trình đã vận dụng lý thuyết quản trị vốn lưu động (các mô hình EOQ, Miller–Orr, JIT) vào bối cảnh cụ thể của một doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành cơ khí chế tạo thiết bị nâng; đồng thời đưa ra hệ thống giải pháp gắn liền với thực trạng mất cân đối nội bộ trong TSNH của đơn vị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với phạm vi văn bản:

  • Dữ liệu nghiên cứu dừng lại ở năm 2017, phản ánh giai đoạn 5 năm đầu sau khi thành lập của doanh nghiệp (2012–2017).
  • Đề tài chỉ phân tích chuyên sâu tại một doanh nghiệp đơn lẻ (Công ty Cổ phần Thiết bị nâng Hải Hà), chưa thực hiện so sánh đối chuẩn (benchmarking) với trung bình ngành cơ khí thiết bị nâng mà chỉ đối chiếu kinh nghiệm với hai tập đoàn lớn trái ngành (Vinamilk, Vingroup).
  • Các mô hình tối ưu hóa định lượng như Miller–Orr hay EOQ mới dừng lại ở mức độ đề xuất lý thuyết, chưa được tác giả chạy thử nghiệm với chuỗi số liệu giao dịch hàng ngày hay chi phí đặt hàng cụ thể của công ty.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng cập nhật số liệu Báo cáo tài chính của công ty trong các giai đoạn sau; thu thập thêm tham số chi phí đặt hàng ($O$), chi phí lưu kho ($C$) và phương sai dòng tiền ($\sigma^2$) để tính toán chính xác mức tồn kho tối ưu ($Q^$) và dải ngân quỹ ($H^, Z^*$).

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên các ngành Tài chính - Ngân hàng, Kế toán, Quản trị kinh doanh: Nguồn tài liệu mẫu về cấu trúc trình bày một khóa luận chuyên ngành quản trị tài chính doanh nghiệp, cách thức thiết lập bảng biểu phân tích Báo cáo tài chính theo chuỗi thời gian 5 năm và công thức tính toán các chỉ tiêu thanh khoản, hiệu suất, sinh lời của TSNH.
  • Người nghiên cứu các đề tài tương tự về vốn lưu động: Tham khảo phương pháp đánh giá mối quan hệ giữa vòng quay tài sản và khả năng sinh lời, cũng như kinh nghiệm phân bổ tài sản ngắn hạn từ các công ty niêm yết lớn.
  • Nhà quản trị doanh nghiệp cơ khí vừa và nhỏ: Phần phân tích thực trạng tại Chương II và hệ thống giải pháp tại Chương III cung cấp góc nhìn thực tiễn về rủi ro khi nắm giữ quá nhiều tiền mặt không sinh lời và bài toán kiểm soát kỳ thu tiền bình quân.

Câu hỏi thường gặp

1. Đặc điểm nổi bật nhất trong cơ cấu tài sản của Công ty Cổ phần Thiết bị nâng Hải Hà giai đoạn 2013–2017 là gì?
Tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối trong toàn bộ tổng tài sản của công ty suốt 5 năm: năm 2013 chiếm 100% (chưa có tài sản dài hạn), năm 2014 chiếm 94,58%, năm 2015 chiếm 99,22%, năm 2016 chiếm 94,24% và năm 2017 chiếm 90,93%.

2. Xu hướng biến động của hệ số sinh lời và số vòng quay TSNH tại doanh nghiệp diễn ra như thế nào?
Cả hai chỉ tiêu đều có xu hướng sụt giảm rõ rệt. Số vòng quay TSNH giảm từ 19,36 vòng (năm 2014) xuống 10,33 vòng (năm 2016) và chỉ phục hồi nhẹ lên 11,56 vòng (năm 2017). Hệ số sinh lời TSNH giảm liên tục từ mức 0,40 lần (năm 2013) xuống 0,14 lần (năm 2016) trước khi đạt 0,16 lần (năm 2017).

3. Tại sao hàng tồn kho của công ty vào cuối năm 2014 lại ghi nhận bằng 0?
Theo phân tích của tác giả tại Chương II, trong năm 2014 công ty đã thực hiện chính sách nới lỏng tín dụng thương mại (cho khách hàng mua chịu nhiều hơn), kết hợp với nhu cầu thị trường tăng mạnh đối với thiết bị nâng, dẫn đến việc công ty bán hết toàn bộ sản phẩm và không còn hàng tồn kho tại thời điểm lập báo cáo.

4. Khả năng thanh toán của Công ty Hải Hà có bảo đảm an toàn tài chính không?
Khả năng thanh toán của công ty ở mức rất an toàn. Hệ số thanh toán hiện hành trong suốt 5 năm đều dao động từ 1,87 lần đến 4,16 lần (năm 2017 đạt 2,62 lần); hệ số thanh toán tức thời luôn lớn hơn hoặc xấp xỉ 1 (năm 2017 đạt 2,02 lần). Tuy nhiên, hệ số thanh toán quá cao phản ánh lượng tiền mặt nhàn rỗi lớn, làm giảm hiệu suất sinh lời của tài sản.

5. Tác giả đã rút ra bài học gì từ mô hình quản trị của Vinamilk (VNM) và Vingroup (VIC)?
Tác giả chỉ ra rằng các doanh nghiệp lớn đều tối ưu hóa tiền mặt ở mức rất thấp (VNM giữ 4,7%, VIC giữ 8,12% TSNH năm 2017). Vinamilk tận dụng tiền nhàn rỗi đầu tư 52,01% TSNH vào trái phiếu ngân hàng để thu hơn 800 tỷ đồng doanh thu tài chính; còn Vingroup tập trung 55,92% TSNH vào hàng tồn kho bất động sản dở dang để đáp ứng chu kỳ kinh doanh đặc thù. Doanh nghiệp cần linh hoạt phân bổ TSNH theo ngành nghề thay vì chỉ giữ tiền mặt đơn thuần.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Dương Thị Văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp. Thông qua chuỗi số liệu tài chính giai đoạn 2013–2017 tại Công ty Cổ phần Thiết bị nâng Hải Hà, công trình đã làm rõ bức tranh cơ cấu tài sản thiên lệch lớn về ngắn hạn, đồng thời chỉ ra thực trạng suy giảm hệ số sinh lời và vòng quay tài sản do ứ đọng tiền mặt. Hệ thống 7 nhóm giải pháp đề xuất bám sát các mô hình tài chính chuẩn mực, mang lại định hướng ứng dụng thiết thực cho công tác quản trị vốn lưu động tại doanh nghiệp.