Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại công ty xi măng Vicem Hoàng Thạch

Tài liệu nghiên cứu Luận văn đề xuất một số giải pháp cải thiện kết quả sử dụng tài sản cố định tại công ty trách nhiệm, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại học Bách Khoa Hà Nội

Chuyên ngành

Kinh tế và Quản lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn cao học

2013

121
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Phân tích thực trạng quản lý và sử dụng tài sản cố định

Phần này sẽ tập trung phân tích tình hình quản lý tài sản cố định tại Vicem Hoàng Thạch, bao gồm tài sản cố định, cơ cấu tài sản cố định, tăng giảm tài sản cố định, hao mòn tài sản cố định, khấu hao tài sản cố định, trang bị kĩ thuật, và hiệu quả sử dụng tài sản cố định.

1.1 Phân tích tình hình trang bị tài sản cố định

Phân tích tình hình trang bị tài sản cố định tại Vicem Hoàng Thạch bao gồm đánh giá cơ cấu tài sản cố định, tình hình tăng giảm tài sản cố định, tình hình trang bị kĩ thuật và trang bị tài sản cố định, tình hình hao mòn tài sản cố định và tình hình khấu hao tài sản cố định. Việc phân tích này sẽ giúp đánh giá khả năng sản xuất của công ty, khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường, và hiệu quả sử dụng tài sản cố định.

1.2 Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định

Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Vicem Hoàng Thạch sẽ tập trung vào các chỉ tiêu đánh giá như sức sản xuất, sức sinh lợi, tỷ suất đầu tư, và hiệu suất làm việc. Kết quả phân tích sẽ giúp đánh giá mức độ sử dụng hiệu quả tài sản cố định, từ đó tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu trong việc quản lý và sử dụng tài sản cố định của công ty.

1.3 Nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản cố định

Phần này sẽ phân tích những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Vicem Hoàng Thạch. Các nguyên nhân được chia thành hai nhóm: nguyên nhân khách quannguyên nhân chủ quan. Phân tích nguyên nhân sẽ giúp xác định những yếu tố chính gây ra hiệu quả sử dụng tài sản cố định chưa cao, từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp.

II. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, phần này sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Vicem Hoàng Thạch. Các giải pháp được chia thành hai nhóm chính: giải pháp đầu tưgiải pháp quản lý. Các giải pháp được đưa ra cần đảm bảo tính khả thi, hiệu quả và phù hợp với thực trạng của Vicem Hoàng Thạch.

2.1 Giải pháp đầu tư

Các giải pháp đầu tư nhằm tăng cường năng lực sản xuất, cải thiện công nghệ, và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định. Ví dụ, đầu tư trạm phát điện tận dụng nhiệt thải lò, cải tạo vách ngăn máy nghiền Z2M01. Phân tích chi tiết từng giải pháp, bao gồm mục tiêu, căn cứ thực hiện, nội dung thực hiện, kế hoạch triển khai, hiệu quả của giải pháp, và các rào cản trong quá trình triển khai.

2.2 Giải pháp quản lý

Các giải pháp quản lý nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý tài sản cố định, nâng cao năng lực quản lý, tăng cường sử dụng hiệu quả tài sản cố định. Ví dụ, hoàn thiện công tác lập kế hoạch mua sắm, đầu tư mới, hiểu và phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ. Phân tích chi tiết từng giải pháp, bao gồm mục tiêu, nội dung thực hiện, kế hoạch triển khai, và hiệu quả của giải pháp.

15/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm tài sản cố định 1.1 Khái niệm tài sản cố định Tư liệu lao động là những tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào thì cả hệ thống không thể hoạt động được, nếu thoả mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là tài sản cố định: +Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; +Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên; +Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 10.000 đồng (mười triệu đồng) trở lên. Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập. Đối với súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm, thì từng con súc vật thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một TSCĐ hữu hình.

( 3, trang 3 ) Khi tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, TSCĐ có các đặc điểm chủ yếu sau: - Tham gia nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh khác nhau nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu cho đến lúc hư hỏng. Nguyễn Quang Tuân Page 1 Lớp 11AQTKD-HL Đại học Bách Khoa Hà Nội – Viện Kinh tế và Quản lý - Luận văn cao học - Giá trị của TSCĐ bị hao mòn dần song giá trị của nó lại được chuyển dịch từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất ra. - TSCĐ chỉ thực hiện được một vòng luân chuyển khi giá trị của nó được thu hồi toàn bộ. Mọi khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra thoả mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn quy định tại điểm 1 ở trên, mà không hình thành TSCĐ hữu hình được coi là TSCĐ vô hình.

( 3, trang 3 ) Những khoản chi phí không đồng thời thoả mãn cả ba tiêu chuẩn nêu tại khoản 1 Điều 3 Thông tư này thì được hạch toán trực tiếp hoặc được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp. Riêng các chi phí phát sinh trong giai đoạn triển khai được ghi nhận là TSCĐ vô hình tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp nếu thỏa mãn đồng thời bảy điều kiện sau: + Tính khả thi về mặt kỹ thuật đảm bảo cho việc hoàn thành và đưa tài sản vô hình vào sử dụng theo dự tính hoặc để bán; + Doanh nghiệp dự định hoàn thành tài sản vô hình để sử dụng hoặc để bán; + Doanh nghiệp có khả năng sử dụng hoặc bán tài sản vô hình đó; + Tài sản vô hình đó phải tạo ra được lợi ích kinh tế trong tương lai; +Có đầy đủ các nguồn lực về kỹ thuật, tài chính và các nguồn lực khác để hoàn tất các giai đoạn triển khai, bán hoặc sử dụng tài sản vô hình đó; +Có khả năng xác định một cách chắc chắn toàn bộ chi phí trong giai đoạn triển khai để tạo ra tài sản vô hình đó; + Ước tính có đủ tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo quy định cho tài sản cố định vô hình. Chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo nhân viên, chi phí quảng cáo phát sinh trước khi thành lập doanh nghiệp, chi phí cho giai đoạn nghiên cứu, chi Nguyễn Quang Tuân Page 2 Lớp 11AQTKD-HL Đại học Bách Khoa Hà Nội – Viện Kinh tế và Quản lý - Luận văn cao học phí chuyển dịch địa điểm, lợi thế kinh doanh không phải là tài sản cố định vô hình mà được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong thời gian tối đa không quá 3 năm kể từ khi doanh nghiệp bắt đầu hoạt động.2 Vai trò của tài sản cố định trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tài sản cố định là những tư liệu liệu lao động chủ yếu tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó gắn liền với doanh nghiệp trong suốt quá trình tồn tại, doanh nghiệp có TSCĐ có thể không lớn về mặt giá trị nhưng tầm quan trọng của nó lại không nhỏ chút nào.

Trước hết, TSCĐ phản ánh mặt bằng cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp, phản ánh quy mô của doanh nghiệp có tương xứng hay không với đặc điểm loại hình kinh doanh mà nó tiến hành. Thứ hai, TSCĐ luôn mang tính quyết định đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đặc điểm luân chuyển của mình qua mỗi chu kỳ kinh doanh, TSCĐ tồn tại trong một thời gian dài và nó tạo ra tính ổn định trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp cả về sản lượng và chất lượng. Thứ ba, trong nền kinh tế thị truờng, khi mà nhu cầu tiêu dùng được nâng cao thì cũng tương ứng với tiến trình cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn.

Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải làm sao để tăng năng suất lao động, tạo ra được những sản phẩm hàng hoá- dịch vụ có chất lượng cao, giá thành hợp lý nhằm chiếm lĩnh thị trường. Sự đầu tư không đúng mức đối với TSCĐ cũng như việc đánh giá thấp tầm quan trọng của TSCĐ sẽ đem lại những khó khăn sao cho doanh nghiệp. Sự thiếu hụt các khả năng sản xuất, khả năng về cung cấp dịch vụ sẽ giúp cho đối thủ cạnh tranh giành mất một phần thị trường của doanh nghiệp và điều này buộc doanh nghiệp khi muốn giành lại thị truờng khách hàng đã phải tốn kém nhiều về chi phí tiếp thị hay phải hạ giá thành về sản phẩm và các dịch vụ cung ứng hoặc cả hai biện pháp. Nguyễn Quang Tuân Page 3 Lớp 11AQTKD-HL Đại học Bách Khoa Hà Nội – Viện Kinh tế và Quản lý - Luận văn cao học Thứ tư, TSCĐ còn là một một công cụ huy động vốn khá hữu hiệu Đối với vốn vay ngân hàng thì TSCĐ được coi là điều kiện khá quan trọng bởi nó đóng vai trò là vật thế chấp cho món tiền vay.

Trên cơ sở trị giá của tài sản thế chấp ngân hàng mới có quyết định cho vay hay không và cho vay với lượng là bao nhiêu. Đối với công ty cổ phần thì độ lớn của công ty phụ thuộc vào giá trị TSCĐ mà công ty nắm giữ. Do vậy quá trình huy động vốn cho doanh nghiệp bằng cánh phát hành trái phiếu hay cổ phiếu, mức độ tin cậy của nhà đầu tư chịu ảnh hưởng khá lớn từ lượng tài sản mà công ty hiện có và hàm lượng công nghệ có trong TSCĐ của công ty.2 Phân loại tài sản cố định trong doanh nghiệp Phân loại TSCĐ là phân chia toàn bộ TSCĐ hiện có theo những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. TSCĐ được phân loại theo các tiêu thức sau: 1.1 Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện Theo tiêu thức này TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành hai loại, TSCĐ có hình thái vật chất (TSCĐ hữu hình) và TSCĐ không có hình thái vật chất (TSCĐ vô hình) 1.1 TSCĐ hữu hình TSCĐ hữu hình của doanh nghiệp được chia làm các loại sau: - Nhà cửa vật kiến trúc bao gồm những TSCĐ được hình thành sau quá trình thi công, ví dụ như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, cầu cống…phục vụ cho hoạt đông sản xuất kinh doanh.

- Máy móc thiết bị, bao gồm bộ máy móc thiết bị dùng cho sản xuất kinh doanh như máy móc, thiết bị chuyên dùng, thiết bị công tác, thiết bị động lực. - Phương tiện vận tải, các loại phương tiện vận chuyển như xe tải, ô tô, tàu thuỷ.và các thiết bị truyền dẫn như hệ thống điện nước. Nguyễn Quang Tuân Page 4 Lớp 11AQTKD-HL Đại học Bách Khoa Hà Nội – Viện Kinh tế và Quản lý - Luận văn cao học - Thiết bị dụng cụ quản lý, gồm các dụng cụ dùng cho quản lý như máy vi tính bàn ghế, máy photo, máy ảnh. - Cây lâu năm Súc vật làm việc và cho sản phẩm gồm: các loại cây lâu năm như cà phê chè.súc vật làm việc và súc vật dùng cho sản phẩm.

- TSCĐ khác gồm những TSCĐ chưa phản ánh vào các loại trên như; TSCĐ không cần dùng, chưa cần dùng, TSCĐ chờ thanh lý, nhượng bán các tác phẩm nghệ thuật tranh ảnh.2 TSCĐ vô hình TSCĐ vô hình của doanh nghiệp được chia làm các loại sau: - Quyền sử dụng đất, bao gồm các chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến việc dành quyền sử dụng đất như; chi phí đền bù, giải phóng mặc bằng. - Quyền phát hành, gồm toàn bộ chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra để có quyền phát hành. - Bản quyền bằng sáng chế, gồm toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để mua lại bản quyền. - Nhãn hiệu hàng hoá, gồm các chi phí thực tế mà doanh nghiệp bỏ ra để mua lại nhãn hiệu hàng hoá.

- Phần mềm máy vi tính, gồm toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có phần mềm mấy vi tính. - Giấy phép và giấy phép nhượng quyền như: giấy phép khai thác, giấy phép sản xuất. - TSCĐ vô hình khác, phản ánh giá trị như: quyền sử dụng hợp đồng, bí quyết công nghệ, công thức pha chế. Nguyễn Quang Tuân Page 5 Lớp 11AQTKD-HL Đại học Bách Khoa Hà Nội – Viện Kinh tế và Quản lý - Luận văn cao học 1.2 Phân loại theo mục đích và tình trạng sử dụng 1.1 Phân loại theo mục đích sử dụng + Tài sản cố định cố định dùng trong sản xuất kinh doanh Bao gồm những TSCĐ tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Nhóm này bao gồm: nhà xưởng, quầy bán hàng, vật kiến trúc, thiết bị động lực, thiết bị truyền dẫn, phương tiện vận tải, dụng cụ đo lường thí nghiệm và những TSCĐ có liên quan. +Tài sản cố định phúc lợi Là những tài sản được xây dựng, mua sắm bằng quỹ phúc lợi hoặc nguồn kinh phí sự nghiệp để phục vụ cho các hoạt động phúc lợi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại công ty xi măng Vicem Hoàng Thạch" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc tối ưu hóa tài sản cố định trong ngành xi măng, đặc biệt là tại Vicem Hoàng Thạch. Nghiên cứu này là kết quả của quá trình phân tích chuyên sâu, do đó mang lại nhiều lợi ích cho độc giả, bao gồm:

Bạn có thể tìm hiểu thêm về quản lý tài sản cố định trong lĩnh vực xây dựng thông qua bài viết Luận văn thạc sĩ về quản lý xây dựng và đấu thầu hợp đồng cho công trình nông nghiệp tại Phú Thọ. Bài viết này tập trung vào việc tổ chức đấu thầu và quản lý hợp đồng xây dựng, một yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát hiệu quả sử dụng tài sản cố định trong lĩnh vực xây dựng.

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, đề cập đến việc hoàn thiện quản lý dự án đầu tư xây dựng. Đây là một khía cạnh quan trọng liên quan đến hiệu quả sử dụng tài sản cố định trong lĩnh vực xây dựng.

Cuối cùng, bài viết Hoàn thiện quản lý tiến độ thi công các công trình của ban quản lý dự án tập trung vào việc quản lý tiến độ thi công, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định trong các dự án xây dựng.