CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Lý luận cơ bản về hiệu quả SXKD của doanh nghiệp 1. Khái niệm về hiệu quả SXKD của doanh nghiệp Trong nền kinh tế của Việt Nam hiện nay, về vấn đề hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn chưa có được một khái niệm thống nhất. Trên mỗi lĩnh vực kinh tế, nghành nghề khinh doanh, … đều được xem xét trên các gốc độ khác nhau về vấn đề hiệu quả.
Tuy nhiên, cho đến nay về vấn đề định nghĩa vẫn tồn tại nhiều khái niệm về hiệu quả kinh tế khác nhau, tùy theo quan điểm nghiên cứu.TS Ngô Đình Giao cho rằng: “Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”.TS Hoàng Hữu Hòa cho rằng: “Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu đề ra”. [4] Theo TS Nguyễn Tiến Mạnh cho rằng: “Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế khách quan phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu xác định”. [14] Theo các nhà kinh tế học có các quan niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh như sau: Quan niệm thứ nhất cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng chi phí”.[14] Quan niệm này thể hiện được sự so sánh tương đối giữa kết quả đạt được với chi phí tiêu hao. Hoạt động sản xuất kinh doanh là một quá trình trong đó các yếu tố tăng them có sự liên hệ mật thiết với các yếu tố sẳn có, chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến quá trình sản xuất kinh doanh và làm hiệu quả sản xuất kinh doanh thay đổi.
Quan niệm này chỉ xem xét tới phần kết quả bổ sung với phần chi phí bổ sung mà không xem xét sự vận động của yếu tố sản có và yếu tố tăng thêm. [14] 5 Quan niệm thứ hai cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là được xác đinh bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí phải bỏ ra để đạt được kết quả đó”. [14] Theo quan điểm này, hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định. Quan niệm trên đã gắn kết được hiệu quả với chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng chi phí của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, quan niệm này vẫn chưa biểu hiện được tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí. [14] Quan điểm thứ ba cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là đại lượng biểu hiện mối tương quan giữa kết quả đạt được và chi phí phải bỏ ra để đạt được kết quả đó” Với quan niệm này, mối quan hệ giữa kết quả và chi phí được biểu hiện một cách chặt chẽ hơn. Mối quan hệ giữa kết quả và chi phí thể hiện bằng giá trị tuyệt đối là lợi nhuận, được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí. Do đó, mối tương quan được biểu hiện thông qua quan hệ tỷ lệ giữa kết quả và chi phí, quan điểm này phản ánh toàn diện hơn.
[14] Từ những quan niệm và nhận định trên, theo quan điểm của tác giả: Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế, biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ quản trị các nguồn lực hữu hạn của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất nhằm thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bản chất của hiệu quả SXKD của doanh nghiệp Bản chất của hiệu quả kinh tế là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm nguồn lực xã hội. Ðây là hai mặt có quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế, gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội: Quy luật tăng năng suất lao động và quy luật tiết kiệm thời gian. Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh tế là đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định hoặc ngược lại, đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu.
Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả chi phí để tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực, đồng thời phải bao gồm chi phí cơ hội. [14] 6 Để hiểu rỏ hơn bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh, cần phân biệt rõ giữa hai phạm trù về hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả trực tiếp và gián gián tiếp mà chủ thể kinh tế thu được với các chi phí trực tiếp, gián tiếp và cơ hội mà chủ thể kinh tế phải bỏ ra để đạt được kết quả đó. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có thể hiểu là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình hoạt động nhất định, nó có thể là các đại lượng có thể cân, đo, đong, đếm và tính toán được như: số sản phẩm tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận, thị phần, … và cũng có thể là các đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như: uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, … Do đó, hiệu quả sản xuất kinh doanh cần được hiểu một cách toàn diện trên cả hai mặt, đó là mặt chất và mặt lượng.
- Về mặt chất: Hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực trong một doanh nghiệp hay một hệ thống. Hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa kết quả thực hiện những mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị, xã hội. [14] - Về mặt lượng: Hiệu quả sản xuất kinh doanh biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Doanh nghiệp chỉ thu được hiệu quả kinh doanh khi nào kết quả lớn hơn chi phí, chi phí ngày càng nhỏ thì hiệu quả ngày càng cao và ngược lại.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đo lường bằng một hệ thống các chỉ tiêu nhất định. [14] Vì vậy, một trong những yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu. Nói một cách tổng quát, hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ và năng lực quản trị điều hành, đảm bảo thực hiện có kết quả cao những mục tiêu kinh tế, xã hội đặt ra trong điều kiện nguồn lực hạn chế. Phân loại hiệu quả SXKD của doanh nghiệp 1.
Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả Kinh tế - Xã hội Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả thu được từ hoạt động SXKD của từng doanh nghiệp với biểu hiện trực tiếp là lợi nhuận, chất lượng hàng hoá mà yêu cầu của xã hội đặt ra cho nó. [14] 7 Hiệu quả Kink tế - Xã hội được tính cho toàn bộ nền kinh tế, về cơ bản nó sản phẩm thặng dư, thu nhập quốc dân hay tổng sản phẩm xã hội mà quốc gia hay vùng, địa phương thu được trong mỗi thời kỳ so với lượng vốn sản xuất, lao động xã hội và tài nguyên đã hao phí.[14] Trong nền kinh tế hội nhập hiện nay,chúng ta không những tính toán hiệu quả SXKD trong từng doanh nghiệpmà phải biết tính toán để đạt hiệu quả trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, mức hiệu quả kinh tế quốc dân lại phụ thuộc vào hiệu quả kinh tế cá biệt. Điều này chính là phụ thuộc vào sự cố gắng của mỗi người lao động và mỗi doanh nghiệp. Hiệu quả tổng hợp và hiệu quả bộ phận Hiệu quả tổng hợp thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để thực hiện hoạt động SXKD.
Hiệu quả bộ phận lại thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với từng chi phí, từng yếu tố cần thiết để thực hiện nhiệm vụ ấy. Việc tính toán chi phí tổng hợp cho thấy hiệu quả chung của doanh nghiệp. Việc tính toán chi phí bộ phận cho thấy sự tác động của các yếu tố nội bộ trong hoạt động kinh doanh đến hiệu quả kinh tế chung. Về nguyên tắc, hiệu quả kinh tế tổng hợp phụ thuộc vào hiệu quả kinh tế bộ phận.
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh Trong hoạt động SXKD, việc xác định và phân tích hiệu quả, một mặt nhằm đánh giá trình độ quản lý và sử dụng các loại chi phí trong quá trình SXKD; mặt khác, phân tích đánh giá để xác định các phương án khác nhau trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó. Hiệu quả tuyệt đối được tính toán cho từng phương án khác nhau nhằm xác định mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra khi thực hiện mục tiêu. Hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối, hoặc so sánh tương quan các đại lượng thể hiện chi phí hoặc kết quả của các phương án khác nhau. Việc phân loại này được sử dụng trong việc tính toán và thẩm định các dự án đầu tư.
Các doanh nghiệp thường dùng các chỉ tiêu so sánh để so sánh các chỉ tiêu 8 hiệu quả tuyệt đối trong hai mốc thời gian khác nhau hoặc hai doanh nghiệp khác nhau có cùng quy mô và lĩnh vực kinh doanh. Các quan điểm cơ bản trong việc đánh giá hiệu quả SXKD của doanh nghiệp 1. Đánh giá hiệu quả SXKD về mặt định tính và định lượng Việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải được xem xét một cách toàn diện, tức là xem xét cả hai mặt định tính và định lượng. Về mặt định lượng: Hiệu quả SXKD phải được xem xét trong mối tương quan giữa cái thu được và cái đã chi ra.
Đánh giá hiệu quả SXKD về mặt định lượng thông qua các chỉ tiêu định lượng, nó được thể hiện bằng các con số cụ thể. Về mặt định tính: Hiệu quả SXKD cho chúng ta biết được tổng quát của hoạt động SXKD của doanh nghiệp và được sử dụng trong các trường hợp không thể đo lường bằng con số cụ thể hoặc khó định lượng được.