CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NHÂN SỰ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và vai trò của quản trị nhân sự 1. Khái niệm về nhân sự và quản trị nhân sự Nhân sự hay còn gọi là nhân lực trước tiên được hiểu đó là toàn bộ những khả năng về trí tuệ, sức lực của con người được sử dụng trong quá trình hoạt động sản xuất và kinh doanh để tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Nhân lực không đơn giản như các yếu tố đầu vào khác của quá trình sản xuất như máy móc thiết bị,vv…mà nó là chủ thể của mọi hoạt động của tổ chức.
Ngoài việc công hiến bằng sức lực cơ bắp, thì con người bằng trí tuệ và kiến thức của mình sẽ làm chủ các thiết bị máy móc hiện đại, sáng tạo ra các phát minh, sáng chế mới tạo nên năng suất lao động ngày càng cao. Nói khác đi, nếu biết sử dụng nhân lực hợp lý thì nhân lực sẽ trở thành nguồn lực vô tận. Nó là yếu tố cơ bản quyết định đến sự thành bại của một tổ chức. Nhân lực của một doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp đó (Trần Kim Dung, 2015).
Quản trị nhân sự là một phần trong quản trị tổ chức với đối tượng quản trị chính là con người. Có thể nói nhân sự của một tổ chức chính là tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người bao gồm có thể lực và trí lực. Thể lực là sức khỏe của thân thể, phụ thuộc vào sức khỏe của bản thân mỗi người, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chăm sóc y tế, tuổi tác, giới tính… Trí lực chỉ sự suy nghĩ, hiểu biết, khả năng tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như nhân cách, quan điểm sống, lòng tin… của từng con người. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp như là tài chính, vốn, tài nguyên thiết bị….
Đó là nguồn tài nguyên quý giá nhất bởi vì con người luôn là vấn đề trung tâm và quan trọng bậc nhất trong mọi tổ chức, doanh nghiệp. Trong sản xuất kinh doanh truyền thống, việc tận dụng thể lực của người lao động đã được khai thác gần như cạn kiệt. Tuy nhiên sự khai thác các tiềm năng về trí lực của con người còn mới mẻ và nhiều bí ẩn (Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm, 2012). Để đạt được mục đích chung của tổ chức một cách có hiệu quả, thì việc QTNS đóng vai trò hết sức quan trọng, đồng thời nó cũng là một công việc vô cùng khó khăn.
Bởi vì nó làm việc với những con người cụ thể, với những hoàn cảnh, nguyện vọng, sở thích, cảm xúc và văn hóa khác nhau. Theo giáo sư người Mỹ Dimock “Quản trị nhân sự bao gồm toàn bộ các biện pháp và thủ tục áp dụng cho nhân viên của một tổ chức và giải quyết tất cả các trường hợp xảy ra có liên quan tới một loại công việc nào đó” (Nguyễn Thanh Hội, 2000). Còn giáo sư Felix Migro thì cho rằng: “Quản trị nhân sự là một nghệ thuật chọn lựa nhân viên mới và sử dụng các nhân viên cũ sao cho năng suất và chất lượng công việc của mỗi người đều đạt mức tối đa có thể” (Nguyễn Thanh Hội, 2000). Như vậy, QTNS chính là một trong những chức năng cơ bản của quá trình quản trị, giải quyết các vấn đề liên quan đến con người và các công việc của họ trong tổ chức hay trong doanh nghiệp.
QTNS cũng bao gồm việc hoạch định (lập kế hoạch), tổ chức, điều khiển và kiểm soát các hoạt động của người lao động nhằm thu hút, sử dụng và phát triển con người để có thể đạt được mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả nhất. Cụ thể hơn, QTNS là quá trình tuyển dụng nguồn lao động cho các tổ chức, doanh nghiệp, là sắp xếp phân chia nguồn lao động một cách khoa học và có hiệu quả thông qua việc phân tích công việc, bố trí lao động hợp lý, trên cơ sở xác định nhu cầu lao động đồng thời động viên, cung cấp tiện nghi lao động cho con người trong tổ chức. Đối tượng của QTNS chính là những cá nhân, cán bộ công nhân viên và các vấn đề liên quan như quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong tổ chức (Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm, 2012). Vai trò của quản trị nhân sự Để nhận biết được một tổ chức hay một doanh nghiệp có hoạt động tốt hay không, có thành công hay không chính là việc đánh giá lực lượng nhân sự của nó.
Những yếu tố còn lại như máy móc thiết bị, của cải vật chất, công nghệ kỹ thuật đều có thể mua được, học hỏi được, sao chép được, nhưng con người thì không thể. Như vậy QTNS có vai trò quan trọng thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. QTNS giúp nhà quản trị đạt được mục đích thông qua nỗ lực của người khác (Nguyễn Thị Liên Diệp, 1996). Nhà quản trị đề ra các đường lối, chính sách phát triển của doanh nghiệp và tổ chức, điều khiển, kiểm soát việc thực hiện những chính sách đó.
Nhà quản trị chịu trách nhiệm trước kết quả công việc của những người khác, đó là những người thừa hành. Kết quả công việc hoàn thành tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của những người thừa hành. QTNS nhằm củng cố và duy trì số lượng và chất lượng lao động cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, ngoài ra QTNS còn thực hiện những phương pháp tốt nhất để thúc đẩy người lao động đóng góp nhiều nhất sức lực cho việc thực hiện mục tiêu chung của tổ chức, đồng thời cũng tạo cơ hội cho người lao động thực hiện những mục tiêu riêng của chính mình. Con người là yếu tố cấu thành nên tổ chức, vận hành tổ chức và quyết định sự tồn tại hay tiêu vong của tổ chức.
Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực không thể thiếu của tổ chức vì vậy QTNS đóng vai trò trung tâm trong việc hình thành các tổ chức và giúp cho các tổ chức tồn tại và phát triển. Con người là chủ thể của mọi hoạt động của doanh nghiệp, vì vậy việc phát huy được yếu tố con người hay không sẽ quyết định kết quả hoạt động của doanh nghiệp (Hoàng Văn Hải, Vũ Thùy Dương, 2010). Xuất phát từ tầm quan trọng của con người đối với các hoạt động của doanh nghiệp mà quản trị nhân sự có những vai trò đặc biệt. Những vai trò đó được thể hiện cụ thể như sau: Thứ nhất, quản trị nhân sự góp phần phát huy năng lực làm việc của con người ở mức độ triệt để và hiệu quả.
Ở những điều kiện bình thường, con người chỉ phát huy nỗ lực làm việc ở mức độ trung bình, tuy nhiên nếu được sử dụng và khích lệ đúng, con người có thể phát huy năng lực làm việc ở mức cao nhất, thậm chí có thể tạo ra các sáng kiến và thành quả mà bình thường họ cũng không nghĩ tới. Thứ hai, quản trị nhân sự có vai trò quyết định trong việc thành công hay thất bại của doanh nghiệp, bởi vì: (i) Con người là chủ thể của mọi hoạt động: “vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”1; (ii) Nhân lực là nguồn lực quý giá nhất của mọi tổ chức: chất lượng của đội ngũ nhân lực của doanh nghiệp quyết định năng lực cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp chứ không phải là các yếu tố khác trong hàm sản xuất như vốn, công nghệ và đất đai…; (iii) Con người là yếu tố phức tạp nhất: mỗi con người với tư cách là một thành viên của xã hội lại vừa có những dấu ấn đặc thù của xã hội vừa có những đặc tính thuộc về tâm sinh lý cá nhân. Vì vậy hành vi của con người rất phức tạp và thay đổi tuỳ thuộc vào cả hai tác động trên. Một người tốt có thể có hành vi xấu khi gặp một hoàn cảnh nào đó mà bản thân không “đề kháng” được trước các cám dỗ của hoàn cảnh này.
Thứ ba, quản trị nhân sự là hoạt động nền tảng để trên cơ sở đó, triển khai các hoạt động quản trị khác: mọi quản trị, suy đến cùng đều là quản trị con người. Nếu thống nhất rằng, quản trị là tổng hợp những hoạt động được 1 Hồ Chí Minh tuyển tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 2, tr. 189-190 thực hiện nhằm đạt được mục đích (đảm bảo hoàn thành công việc) thông qua nỗ lực (sự thực hiện) của những người khác2, thì điều này có nghĩa là mọi quản trị, từ quản trị chiến lược đến quản trị các hoạt động kinh doanh và cả các hoạt động quản trị hậu cần khác cũng chính là thông qua việc phát huy sự thực hiện (lao động) của những người khác, và đó chính là quản trị nhân sự – quản trị yếu tố con người trong kinh doanh.
Nội dung của quản trị nhân sự Giống như một quá trình quản trị nói chung, QTNS cũng bao gồm các nội dung từ hoạch định, đề ra mục tiêu kế hoạch về nhân sự, đến tổ chức, sắp xếp lực lượng lao động, lãnh đạo là tác động vào nhân sự sao cho đạt được hiệu quả tốt nhất và cuối cùng là kiểm tra công việc của người lao động có thực hiện đúng như mục tiêu đã đề ra không? Vậy cụ thể công tác QTNS bao gồm các bước được thể hiện ở sơ đồ 1. 2 Phạm Vũ Luận, Quản trị doanh nghiệp thương mại, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2004, tr. 67 Hoạch định nhân sự: Xác định nhu cầu về nhân sự và lập kế hoạch để đạt được mục tiêu về nhân sự.
Tuyển dụng nhân sự: Chiêu mộ và chọn ra những ngườicó khả năng thực hiện công việc. Sắp xếp và sử dụng người lao động: Đảm bảo sự phù hợp, sự tương xứng giữa công việc và người thực hiện công việc. Đảm bảo mọi công việc được thực hiện tốt. Đào tạo và phát triển nhân viên Đánh giá và đãi ngộ nhân sự: Nhằm kích thích người lao động nâng cao hiệu quả kinh doanh, thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.1: Nội dung chính của QTNS.
Hoạch định nhân sự Sau khi đề ra mục tiêu về kinh doanh doanh nghiệp sẽ đề ra các chiến lược và kế hoạch hoạt động cho các bộ phận, trong đó có bộ phận nhân sự.