Tổng quan nghiên cứu

Tài nguyên rừng giữ vai trò sống còn đối với an ninh sinh thái, điều hòa nguồn nước và phát triển kinh tế xã hội bền vững tại các vùng trung du miền núi. Trong bối cảnh độ che phủ rừng toàn quốc đạt 41,65% vào năm 2018, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn sở hữu vị trí chiến lược với 63.474,8 ha diện tích đất có rừng, đạt tỷ lệ che phủ 62,44%. Tuy nhiên, hệ sinh thái rừng tự nhiên với diện tích 59.686,9 ha tại đây đang chịu sức ép nghiêm trọng từ các hoạt động nhân sinh tiêu cực. Với hơn 50 km đường biên giới giáp Trung Quốc cùng mạng lưới giao thông thuận lợi qua Quốc lộ 4A và Quốc lộ 3B, địa bàn trở thành điểm nóng về buôn bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật và lấn chiếm đất rừng, đỉnh điểm là vụ phá 23,8 ha rừng phòng hộ tại xã Kim Đồng năm 2018.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện hiện trạng tài nguyên rừng, phân tích thực trạng quản lý bảo vệ rừng và nhận diện các yếu tố tác động trực tiếp tại địa phương. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát 22 xã và 01 thị trấn thuộc huyện Tràng Định, tập trung phân tích sâu chuỗi dữ liệu thứ cấp và sơ cấp giai đoạn 2015-2018, thời gian thực hiện thực địa từ tháng 11/2018 đến tháng 5/2019. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc lượng hóa các bất cập về tổ chức bộ máy, trong đó chỉ có 07 kiểm lâm địa bàn phụ trách hơn 88.941,55 ha đất quy hoạch lâm nghiệp, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn 198 loài thực vật bản địa quý hiếm và phục hồi 25.074,68 ha đất trống quy hoạch cho lâm nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Quản lý rừng bền vững (Sustainable Forest Management - SFM) theo khung tiêu chuẩn của Tổ chức Gỗ nhiệt đới Quốc tế (ITTO) và Hội đồng Quản trị Rừng (FSC/PEFC). Lý thuyết này đòi hỏi sự cân bằng hài hòa giữa ba trụ cột: hiệu quả kinh tế lâm nghiệp, tính toàn vẹn sinh thái và công bằng xã hội. Bên cạnh đó, đề tài kết hợp lý thuyết Lâm nghiệp xã hội (Social Forestry) và mô hình Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (Community-Based Natural Resource Management - CBNRM), khẳng định vai trò chủ thể của người dân bản địa trong việc bảo tồn và hưởng lợi từ rừng.

Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa bao gồm: quản lý bảo vệ rừng, độ che phủ rừng, trữ lượng lâm phần và đồng quản lý tài nguyên. Cơ sở pháp lý của luận văn dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật lâm nghiệp hiện hành, đặc biệt là Chỉ thị số 13-CT/TW năm 2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, cùng Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định về định mức biên chế kiểm lâm địa bàn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ các nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ hệ thống phần mềm theo dõi diễn biến rừng FORMIS, báo cáo tổng kết giai đoạn 2015-2018 của Chi cục Kiểm lâm Lạng Sơn và Hạt Kiểm lâm huyện Tràng Định. Cỡ mẫu điều tra thực địa bao gồm 51 đối tượng được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên, phân bổ cụ thể: 03 cán bộ cấp huyện, 06 cán bộ cấp xã, 12 trưởng thôn bản và 30 hộ gia đình sinh sống gần rừng thuộc 06 thôn tiêu biểu (Phiêng Sâu, Đông Sào, Bản Ne, Nà Mè, Khau Ngù, Pác Cam) tại 03 xã đại diện là Vĩnh Tiến, Tri Phương và Đại Đồng.

Phương pháp phân tích được lựa chọn gồm đánh giá ma trận SWOT (Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội, Thách thức) và Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) thông qua công cụ dòng lịch sử thôn bản, biểu đồ thời gian và thảo luận nhóm tập trung. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm đảm bảo tính khách quan: việc tích hợp dữ liệu không gian FORMIS giúp xác thực chính xác diện tích và trữ lượng, trong khi phương pháp PRA và SWOT cho phép nhận diện sâu sắc các rào cản về sinh kế, tập quán du canh và xung đột lợi ích ở cấp cơ sở mà số liệu thống kê đơn thuần không phản ánh hết. Toàn bộ tiến trình thu thập và xử lý số liệu được triển khai từ tháng 11/2018 đến tháng 5/2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về hiện trạng tài nguyên, tổng diện tích đất có rừng của huyện Tràng Định đạt 63.474,8 ha, trong đó rừng tự nhiên chiếm ưu thế tuyệt đối với 59.686,9 ha (94,03%), rừng trồng chiếm 3.788,9 ha. Lâm phần rừng gỗ lá rộng thường xanh chiếm diện tích lớn nhất với 49.579,33 ha, sở hữu tổng trữ lượng gỗ ước tính trên 2.064,9 nghìn m3 (tương đương 85,46% tổng trữ lượng toàn huyện, bình quân đạt 59,2 m3/ha). Đáng chú ý, trạng thái rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh phục hồi chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 79,66%, trong khi rừng giàu và trung bình chỉ chiếm 0,8%.

Thứ hai, kết quả đánh giá phân quyền quản lý cho thấy sự phân hóa hiệu quả rõ nét. 100% cán bộ và người dân được phỏng vấn khẳng định diện tích rừng giao cho hộ gia đình và cá nhân quản lý đạt hiệu quả bảo vệ cao nhất, gần như không phát sinh điểm cháy hay phá rừng nghiêm trọng. Ngược lại, diện tích rừng do Ủy ban nhân dân cấp xã tạm quản lý bộc lộ nhiều lỗ hổng giám sát, trở thành đối tượng chính của các vụ lấn chiếm đất lâm nghiệp và khai thác trộm các loài gỗ quý nhóm IIA như Nghiến, Đinh, Lim.

Thứ ba, tình hình vi phạm lâm luật giai đoạn 2015-2018 có chiều hướng gia tăng phức tạp. Số vụ vi phạm bị xử lý tăng từ 07 vụ năm 2015 lên 17 vụ năm 2018 (tăng 88,9% so với 09 vụ năm 2017). Riêng hành vi mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép năm 2018 tăng 700% so với năm 2017. Lực lượng chức năng đã tịch thu 17,832 m3 gỗ tròn, 2,721 m3 gỗ xẻ (tăng 128% so với năm 2017) và 9.845 kg dược liệu củ cẩu tích tươi, nộp ngân sách nhà nước 361 triệu đồng. Vụ phá 23,8 ha rừng phòng hộ tại khoảnh 2, tiểu khu 52, xã Kim Đồng năm 2018 đã bị khởi tố hình sự.

Thứ tư, công tác tổ chức lực lượng bộc lộ sự thiếu hụt trầm trọng. Hạt Kiểm lâm Tràng Định chỉ có 16 biên chế, trong đó có 07 kiểm lâm địa bàn quản lý 22 xã có rừng (bình quân 1 kiểm lâm phụ trách hơn 12.700 ha). Căn cứ theo Quyết định 07/2012/QĐ-TTg (định mức 1.000 ha/kiểm lâm), địa bàn còn thiếu tới 82 cán bộ kiểm lâm. Ngoài ra, trong tổng số 3.922 người thuộc lực lượng bảo vệ rừng bán chuyên trách cấp xã và thôn bản, có đến 1.063 người (chiếm 61,55%) chưa qua bất kỳ khóa đào tạo chuyên môn nào về quản lý bảo vệ rừng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng suy thoái tài nguyên bắt nguồn từ áp lực sinh kế của cộng đồng dân cư bản địa (chiếm trên 78% là dân tộc Tày, Nùng), nơi tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm 58,1% và 70% lao động chưa qua đào tạo nghề. Địa hình hiểm trở với hơn 35% diện tích có độ dốc trên 25-30 độ gây khó khăn lớn cho công tác tuần tra cơ động.

Các chuỗi dữ liệu này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cột kép thể hiện tương quan giữa số vụ vi phạm và số tiền xử phạt nộp ngân sách qua các năm (tăng từ 13 triệu đồng năm 2015 lên 361 triệu đồng năm 2018), cùng biểu đồ tròn phân bổ cơ cấu chủ quản lý rừng. Khi so sánh với các nghiên cứu lâm nghiệp tại khu vực núi đá vôi Đông Bắc, kết quả tại Tràng Định tái khẳng định quy luật: nếu thiếu hụt lực lượng tuần tra chuyên trách và chậm trễ trong việc giao đất lâm nghiệp gắn với sinh kế, diện tích rừng tự nhiên sẽ luôn đứng trước nguy cơ bị xâm hại cao.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các hạn chế đã phát hiện, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Đẩy mạnh giao đất, giao rừng và hoàn thiện chính sách hưởng lợi: Rà soát, chuyển đổi và giao toàn bộ 25.074,68 ha đất quy hoạch lâm nghiệp chưa có rừng hiện do UBND xã quản lý sang cho các hộ gia đình và cộng đồng thôn bản. Đặt mục tiêu đạt 100% diện tích đất lâm nghiệp có chủ thể quản lý thực sự trước năm 2022. Chủ thể thực hiện: UBND huyện Tràng Định phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường.
  2. Kiện toàn bộ máy và thiết lập hệ thống trạm chốt bảo vệ rừng: Thành lập ngay 02 chốt kiểm soát lâm sản cố định tại thôn Lũng Phầy (xã Chí Minh) và thôn Nà Nưa (xã Quốc Khánh) nhằm bịt kín các tuyến đường vận chuyển lâm sản qua biên giới; bổ sung tối thiểu 04 đến 10 biên chế kiểm lâm địa bàn giai đoạn 2020-2023. Chủ thể thực hiện: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lạng Sơn và Hạt Kiểm lâm huyện Tràng Định.
  3. Chuẩn hóa năng lực cho lực lượng bán chuyên trách: Xây dựng chương trình tập huấn định kỳ hàng quý, chuẩn hóa nghiệp vụ tuần tra, sử dụng thiết bị định vị GPS và kỹ năng phòng cháy chữa cháy rừng cho 61,55% cán bộ bán chuyên trách chưa qua đào tạo. Đặt chỉ tiêu 100% lực lượng bảo vệ rừng cơ sở được cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ vào cuối năm 2021. Chủ thể thực hiện: Hạt Kiểm lâm Tràng Định.
  4. Ứng dụng khoa học kỹ thuật và chuyển đổi mô hình sinh kế: Mở rộng mô hình trồng rừng gỗ lớn (quế, hồi, sa mộc, keo) thay thế cây gỗ nhỏ chu kỳ ngắn, kết hợp phát triển các loại cây dược liệu bản địa (thạch đen, cẩu tích) dưới tán rừng nhằm nâng giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng từ 7% lên 12%/năm giai đoạn 2020-2025. Chủ thể thực hiện: Trạm Khuyến nông và Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Tràng Định.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và lực lượng Kiểm lâm: Cung cấp cơ sở thực tiễn xác thực về định mức thiếu hụt biên chế, mô hình bố trí chốt trạm trọng điểm và phương án tối ưu hóa tuần tra tại vùng biên giới theo tinh thần Chỉ thị 13-CT/TW.
  2. Chính quyền địa phương cấp huyện và xã (khu vực miền núi): Cung cấp khung hướng dẫn rà soát, xử lý dứt điểm 25.074,68 ha đất lâm nghiệp chưa giao, tháo gỡ điểm nghẽn trong quản lý rừng phòng hộ cấp xã.
  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường / Quản lý Tài nguyên rừng: Cung cấp tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp tích hợp FORMIS, ma trận SWOT và công cụ PRA trong đánh giá tài nguyên rừng cấp quận huyện.
  4. Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị phát triển nông thôn: Nguồn tư liệu định lượng phục vụ thiết kế các dự án chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES), hỗ trợ sinh kế phi lâm sản và phát triển chuỗi giá trị cây hồi, thạch đen bản địa.

Câu hỏi thường gặp

Đặc điểm nổi bật của tài nguyên rừng huyện Tràng Định là gì? Huyện có 63.474,8 ha rừng với tỷ lệ che phủ 62,44%, trong đó rừng tự nhiên chiếm 59.686,9 ha (94,03%). Kiểu rừng gỗ lá rộng thường xanh chiếm diện tích lớn nhất (49.579,33 ha) và nắm giữ hơn 85,46% tổng trữ lượng gỗ toàn huyện.

Tại sao rừng do UBND cấp xã quản lý lại xảy ra nhiều vi phạm lâm luật? Do UBND cấp xã không có lực lượng chuyên trách tuần rừng thường xuyên, diện tích quản lý phân tán ở vùng sâu hẻo lánh. Điển hình năm 2018, vụ phá 23,8 ha rừng phòng hộ tại xã Kim Đồng xảy ra trên diện tích do xã quản lý do thiếu hụt phương tiện giám sát.

Định mức biên chế kiểm lâm tại Tràng Định thiếu hụt ở mức độ nào? Theo Quyết định 07/2012/QĐ-TTg, bình quân 1.000 ha rừng cần 01 kiểm lâm. Tràng Định có 88.941,55 ha đất lâm nghiệp nhưng chỉ có 07 kiểm lâm địa bàn phụ trách 22 xã, dẫn đến tình trạng thiếu hụt tới 82 biên chế chuyên trách.

Xu hướng vi phạm lâm luật tại địa phương diễn biến thế nào trong giai đoạn 2015-2018? Số vụ vi phạm tăng mạnh từ 07 vụ (năm 2015) lên 17 vụ (năm 2018). Các hành vi mua bán, vận chuyển trái phép tăng 700% vào năm 2018, lực lượng chức năng đã xử phạt hành chính và bán tang vật thu nộp ngân sách hơn 361 triệu đồng.

Vị trí nào được đề xuất lập chốt trạm bảo vệ rừng khẩn cấp? Luận văn đề xuất lập 02 chốt kiểm soát tại thôn Lũng Phầy (xã Chí Minh) và thôn Nà Nưa (xã Quốc Khánh). Đây là hai cửa ngõ huyết mạch kết nối biên giới và các tuyến giao thông chính nhằm ngăn chặn triệt để tình trạng tuồn gỗ lậu qua địa bàn.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện hiện trạng 63.474,8 ha rừng tại Tràng Định với tỷ lệ che phủ đạt 62,44%, xác định diện tích rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh phục hồi chiếm tới 79,66%.
  • Làm rõ áp lực quản lý khi địa phương thiếu hụt 82 biên chế kiểm lâm địa bàn theo chuẩn quốc gia và 61,55% lực lượng bảo vệ rừng bán chuyên trách chưa qua đào tạo.
  • Lượng hóa diễn biến phức tạp của 17 vụ vi phạm lâm luật năm 2018 và khởi tố vụ phá 23,8 ha rừng phòng hộ tại xã Kim Đồng.
  • Khẳng định tính ưu việt của mô hình giao rừng cho hộ gia đình và đề xuất lộ trình thành lập 02 trạm chốt bảo vệ rừng tại Lũng Phầy và Nà Nưa.
  • Đề ra kế hoạch hành động giai đoạn 2020-2025: hoàn tất giao 25.074,68 ha đất trống đồi trọc, ứng dụng công nghệ giám sát FORMIS và mở rộng chuỗi giá trị cây dược liệu dưới tán rừng.

Các nhà quản lý lâm nghiệp và chính quyền địa phương cần khẩn trương phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp này nhằm bảo vệ vững chắc và phát triển bền vững tài nguyên rừng vùng biên giới Tràng Định.