ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một trong những quốc gia có tài nguyên rừng phong phú và đa dạng với trên 70% diện tích tự nhiên là rừng núi (World Bank, 2005). Để giữ gìn, bảo tồn nguyên vẹn và hiểu quả tài nguyên rừng, các Vƣờn Quốc gia, Khu Bảo tồn và Hạt Kiểm lâm đƣợc thành lập. Tuy nhiên, việc quản lý các khu rừng ở Việt Nam đang đối mặt với nhiều trở ngại và khó khăn. Mạng lƣới các khu rừng đặc dụng đều phân bố ở vùng sâu và vùng xa, nơi có nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống, và họ có cuộc sống thƣờng rất nghèo và ít cơ hội để phát triển.
Vì vậy, họ phụ thuộc rất nhiều vào khai thác tài nguyên thiên nhiên vì sinh kế. Tuy nhiên, việc thành lập các khu bảo tồn và rừng phòng hộ đã ngăn cản họ sử dụng tài nguyên rừng mà họ đã khai thác và sử dụng lâu đời. Hậu quả là, ngƣời dân địa phƣơng săn bắt động vật hoang dã và khai thác tài nguyên rừng bên trong các khu rừng đƣợc quản lý là điều hiển nhiên. Ngoài ra, hình thái quản trị các khu rừng chƣa gắn kết đƣợc ngƣời dân tham gia vào quá trình hoạch định chính sách.
Các cơ quan quản lý nhà nƣớc, nhƣ Vƣờn Quốc gia, Hạt Kiểm lâm và Ủy ban nhân các cấp tập trung quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng và họ không cho phép cộng đồng địa phƣơng tham gia vào quá trình ra quyết định và chia sẻ lợi ích. Ở Việt nam, nhà nƣớc quản lý hầu hết các khu rừng, chiếm tới 76.5%, tập thể quản lý chiếm 4.9% và tƣ nhân quản lý chiếm 18. Từ những vấn đề bất cập trong quản trị tài nguyên rừng, các sáng kiến về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng theo hƣớng bền vững đã đƣợc Chính phủ đề xuất và thực hiện, nhƣ; xây dựng các chính sách khuyến khích cộng đồng tham gia vào quản lý và bảo vệ rừng, và xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích và sử dụng bền vững tài nguyên rừng cho cộng đồng địa phƣơng. Những sáng kiến này có thuật ngữ khác nhau nhƣng chúng đều xuất phát từ một cụm từ chung là lâm nghiệp cộng đồng nhằm quản lý bảo vệ tài nguyên rừng hiệu quả, đồng thời LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 đảm bảo phúc lợi và an ninh sinh kế cho ngƣời dân địa phƣơng sinh sống trong và xung quanh các khu rừng.
Trong những năm gần đây, Chính phủ đã thực hiện các chính sách bằng việc giao đất lâm nghiệp cho cộng đồng địa phƣơng để quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên rừng. Cộng đồng cũng tham gia bảo vệ rừng, xúc tiến tái sinh rừng và trồng mới cho các tổ chức nhà nƣớc [11, 3, 15]. Cho đến nay, các nghiên cứu về rừng cộng đồng chủ yếu đƣợc đề cập trong các khuyến nghị về khung pháp lý nhằm phát triển các phƣơng pháp quản lý rừng cộng đồng hiệu quả. Ví dụ, biện minh khoa học về các chỉ tiêu lâm sinh đơn giản cho hạn ngạch, tính khả thi của thủ tục hành chính đối với khai thác gỗ và giám sát trong quá trình khai thác gỗ, và tầm quan trọng hàng đầu trong việc sắp xếp chia sẻ lợi ích đơn giản [11,19].
Theo Bảo Huy (2009), cơ chế chia sẽ lợi ích đã đƣợc đƣa vào kế hoạch phát triển lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam nhƣng ngƣời dân địa phƣơng thiếu động lực tham gia vì cơ chế hƣởng lợi từ việc nhận đất lâm nghiệp không cao và chƣa rõ ràng. Mặc dù sự tham gia của địa phƣơng đã đƣợc khuyến khích trong việc xây dựng kế hoạch quản lý lâm nghiệp nhƣng không có nghiên cứu rõ ràng về cách thức ngƣời dân tham gia vào quá trình phát triển lâm nghiệp cộng đồng khác nhau nhƣ thế nào và những yếu tố chính đóng góp vào sự tham gia thụ động của họ là gì [1]. Xã Lƣu Kiền có diện tích tự nhiên 13.979,63 ha, diện tích đất lâm nghiệp là 13.349,7 ha độ che phủ đạt 81,9%. Toàn xã có tổng dân số là: 4.103 khẩu; tổng số hộ là: 970 hộ, phân bố không đồng đều trên 06 bản.
Xã có 3 dân tộc, trong đó dân tộc Thái chiếm: 92,5%, Mông chiếm: 6%, dân tộc khác chiếm: 1,5%, toàn xã có 434 hộ nghèo chiếm 46,5% [36, 35, 34]. Do vậy kinh tế ngƣời dân còn nghèo, trình độ dân trí còn nhiều hạn chế, cuộc sống của một phần lớn ngƣời dân còn phụ thuộc vào khai thác tài nguyên rừng và hoạt động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 sản xuất nƣơng rẫy. Tuy nhiên, sự tham gia của cộng đồng thôn bản vào các hoạt động quản lý tài nguyên rừng còn rất nhiều hạn chế, tạo ra những khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng ở địa phƣơng. Việc nghiên cứu những yếu tố thúc đẩy và hạn chế cũng nhƣ điều kiện thuận lợi và khó khăn của ngƣời dân xã Lƣu Kiền khi tham gia vào quản lý và bảo vệ rừng là hết sức cần thiết, làm cơ sở cho việc đề xuất và xây dựng các biện pháp bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng một cách hiệu quả.
Vì vậy, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu sự tham gia của người dân trong các hoạt động quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng tại xã Lưu Kiền, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An” nhằm mục đích tìm hiểu về hiện trạng công tác quản lý tài nguyên rừng, các vấn đề và hạn chế trong công tác quản lý rừng dựa vào cộng đồng, từ đó đề xuất và xây dựng các biện pháp bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng một cách hiệu quả. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm lâm nghiệp cộng đồng 1. Các khái niệm về cộng đồng Theo Tổ chức FAO (1996), thuật ngữ cộng đồng đƣợc định nghĩa là “những ngƣời sống tại một chỗ, trong một tổng thể” hoặc là “một nhóm ngƣời sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung”.
Ý tứ về tính chất tổng thể hoặc cùng nhau gắn bó là gốc ngữ nghĩa trong thuật ngữ cộng đồng, nó giúp trả lời câu hỏi ai là ngƣời nằm trong một hệ quản lý tập thể đặc biệt. Trong khi từ “cộng đồng” ẩn dụ một nhóm ngƣời “tổng thể” sống tại một vị trí hoặc cùng với nhau theo cách nào đó, thì từ “thôn xã” có nghĩa là giữa những nhóm ngƣời khác nhau. Sự phân biệt giữa cộng đồng và thôn xã khá quan trọng trong khi nghiên cứu những ai có quyền hƣởng lợi một vài tài nguyên công cộng và lợi ích đƣợc phân bổ nhƣ thế nào [2]. Cộng đồng trong khái niệm quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ), đƣợc giới hạn là tập hợp của các cá nhân trong một thôn bản gần rừng gắn bó chặt chẽ với nhau qua hoạt động sản xuất, sinh hoạt và đời sống văn hoá xã hội [23].
Cộng đồng bao gồm toàn thể những ngƣời sống trong một xã hội có những đặc điểm tƣơng tự và có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau [14]. Theo Case (1990), cộng đồng địa phƣơng là nhóm ngƣời cùng sống trên một khu vực và thƣờng cùng nhau chia sẻ các mục tiêu chung, các luật lệ xã hội chung hoặc có quan hệ gia đình với nhau. Theo Nguyễn Hồng Quân và cộng sự (2001) cho rằng: “Cộng đồng bao gồm toàn thể những ngƣời sống thành một xã hội có những điểm tƣơng đồng về mặt văn hoá truyền thống, có mối quan hệ sản xuất, đời sống gắn bó với nhau và thƣờng có danh giới không gian trong một làng bản”. Theo điều 3 của Luật bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) năm 2004 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 thì cộng đồng dân cƣ thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tƣơng đƣơng.
Ở Việt Nam, cộng đồng đƣợc hiểu là những ngƣời sống trong cùng ranh giới hành chính nhƣ cộng đồng thôn, cộng đồng bản. Ranh giới hành chính các thôn, bản đều đƣợc thành lập dựa trên lịch sử lâu đời, vì vậy, cộng đồng tại các thôn, bản luôn có mối liên kết mật thiết, ngƣời đứng đầu (trƣởng thôn, trƣởng bản) có hƣơng ƣớc, quy ƣớc xây dựng lâu đời và đƣợc ngƣời dân rất tôn trọng, tuân thủ nghiêm ngặt. Nhƣ vậy, cộng đồng có thể là cộng đồng dân cƣ thôn, làng bản, cộng đồng các dòng họ, các nhóm ngƣời có những đặc điểm và lợi ích chung,… trong phạm vi nghiên cứu này, cộng đồng đƣợc hiểu theo nghĩa cộng đồng địa phƣơng là thôn, xóm. Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý rừng Cộng đồng tham gia quản lý rừng cũng có thể thay thế bằng một từ chung nhất là lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ).
Thuật ngữ “Lâm nghiệp cộng đồng (Community Forestry)” đây là một thuật ngữ sẽ không bao giờ kết thúc việc tìm kiếm định nghĩa, theo FAO (1978) “Lâm nghiệp cộng đồng là bao gồm bất kỳ tình huống nào mà ngƣời dân địa phƣơng tham gia vào hoạt động lâm nghiệp”, tuy vậy nó thƣờng đƣợc sử dụng với nghĩa hẹp hơn nhƣ là các hoạt động lâm nghiệp đƣợc tiến hành bởi cộng đồng hoặc nhóm ngƣời dân địa phƣơng [2]. Nhƣ vậy khái niệm lâm nghiệp cộng đồng đã đƣợc đề cập nhiều ở các quốc gia trên thế giới, nó đƣợc hình thành với mục đích tạo dựng một phƣơng thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng, phân cấp trong quản lý rừng. Rừng đƣợc quản lý bền vững hơn từ những ngƣời đang sống phụ thuộc vào rừng, và những giải pháp quản lý bảo vệ rừng đóng góp vào việc sinh kế và cải thiện đời sống ngƣời dân từ hoạt động lâm nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Hiện nay, ở Việt Nam có những quan điểm khác nhau về LNCĐ và chƣa có một định nghĩa chính thức nào đƣợc công nhận.
Tuy nhiên, qua các cuộc hội thảo dƣờng nhƣ mọi ngƣời đều thống nhất ở Việt Nam có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO nhƣ sau: - Thứ nhất là quản lý rừng cộng đồng Đây là hình thức khi mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và ăn chia sản phẩm hoặc hƣởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng. Rừng của cộng đồng là rừng của thôn đã đƣợc quản lý theo truyền thống trƣớc đây (quản lý theo các luật tục truyền thống), rừng trồng của các hợp tác xã, rừng tự nhiên đã đƣợc giao cho các hợp tác xã trƣớc đây sau khi chuyển đổi hoặc giải thể, hợp tác xã đã giao lại cho các xã hoặc các thôn quản lý.