Tổng quan nghiên cứu

Quản trị tài nguyên rừng bền vững gắn liền với sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những thách thức trọng tâm của ngành lâm nghiệp Việt Nam. Với hơn 70% diện tích tự nhiên là đồi núi, nguồn tài nguyên rừng giữ vai trò sống còn trong việc bảo vệ môi trường sinh thái và ổn định an ninh nguồn nước. Tuy nhiên, hệ thống quản trị rừng truyền thống do Nhà nước nắm giữ tới 76,5% diện tích thường tách rời cộng đồng bản địa khỏi quyền ra quyết định và cơ chế phân chia lợi ích. Thực trạng này tạo ra xung đột gay gắt giữa mục tiêu bảo tồn nghiêm ngặt và nhu cầu khai thác mưu sinh của người dân vùng đệm.

Tại xã Lưu Kiền, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, tổng diện tích tự nhiên đạt 13.979,63 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tới 13.349,70 ha tương đương 95,49% và độ che phủ rừng đạt 81,9%. Toàn xã có 970 hộ gia đình với 4.103 nhân khẩu sinh sống tại 6 bản làng, bao gồm 92,5% đồng bào dân tộc Thái, 6,0% dân tộc Mông và 1,5% các dân tộc khác. Tỷ lệ hộ nghèo tại địa phương chiếm tới 46,5% với 434 hộ, thu nhập bình quân đầu người ở mức thấp khoảng 12,5 triệu đồng mỗi năm. Đời sống của đại bộ phận cư dân phụ thuộc chặt chẽ vào canh tác nương rẫy và thu hái lâm sản.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là đánh giá toàn diện sự tham gia của người dân trong công tác quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng tại xã Lưu Kiền trong giai đoạn 2012–2017. Các mục tiêu cụ thể gồm: làm rõ hiện trạng rừng và cơ chế giao khoán; nhận diện các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và yếu tố thúc đẩy, cản trở; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng bền vững. Công trình có ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp cơ sở khoa học để chuyển đổi phương thức quản lý rừng từ mệnh lệnh hành chính sang đồng quản lý có sự tham gia thực chất của người dân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết nấc thang tham gia của Sherry Arnstein thiết lập năm 1969 cùng khung phân loại mức độ tham gia của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc xác lập năm 1999. Theo thang bậc của Arnstein, sự tham gia của người dân được phân chia thành 3 cấp độ với 8 nấc thang từ không tham gia, tham gia hình thức cho đến tham gia thực sự thông qua quyền làm đối tác và tự kiểm soát. Mô hình của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc chỉ rõ việc chia sẻ quyền ra quyết định là điều kiện tiên quyết để tạo dựng sự hợp tác bền vững trong quản trị tài nguyên thiên nhiên.

Bên cạnh đó, đề tài kết hợp lý thuyết Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng và Lâm nghiệp xã hội để phân tích 4 khái niệm nền tảng:

  • Lâm nghiệp cộng đồng: Các hoạt động lâm nghiệp do cộng đồng trực tiếp tổ chức, quản lý và hưởng lợi theo hương ước truyền thống hoặc đất rừng được Nhà nước giao lâu dài.
  • Quản lý rừng dựa vào cộng đồng: Hình thức người dân tham gia bảo vệ diện tích rừng thuộc sở hữu của Nhà nước hoặc các chủ thể kinh tế khác nhằm hưởng lợi ích kinh tế và việc làm.
  • Sự tham gia của người dân: Tiến trình các chủ thể cùng chia sẻ trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích trong việc ban hành và thực thi quyết định quản lý rừng.
  • Cơ chế chia sẻ lợi ích: Khung pháp lý và quy định điều phối sản phẩm gỗ, lâm sản ngoài gỗ và dịch vụ môi trường rừng giữa Nhà nước và người dân nhận khoán.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu phối hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo kiểm kê rừng, niên giám thống kê giai đoạn 2012–2016 và dữ liệu sơ cấp thông qua các công cụ đánh giá nhanh nông thôn và đánh giá nông thôn có sự tham gia. Cỡ mẫu khảo sát thực địa bao gồm 49 hộ gia đình, chiếm 5,05% trong tổng số 970 hộ toàn xã, trải đều trên cả 6 bản làng. Nghiên cứu đã thực hiện 294 lượt câu hỏi phỏng vấn bán định hướng và thu về 109 ý kiến chuyên sâu.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng dựa trên tiêu chí phân loại mức sống: nhóm hộ khá giàu, nhóm hộ trung bình và nhóm hộ nghèo. Đồng thời, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 6 trưởng bản, cán bộ địa chính, lãnh đạo xã và kiểm lâm địa bàn; kết hợp tổ chức 6 cuộc thảo luận nhóm tập trung với quy mô 5 đến 7 thành viên mỗi nhóm.

Lý do lựa chọn kết hợp công cụ phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và sơ đồ tổ chức không gian nhằm lượng hóa các mối quan hệ xã hội học và thể chế địa phương. Toàn bộ số liệu định lượng được xử lý qua phần mềm bảng tính điện tử bằng phương pháp thống kê mô tả và so sánh đối chiếu, đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao cho toàn bộ luận án.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra 3 phát hiện nổi bật về bức tranh tài nguyên rừng và cơ cấu tham gia quản lý tại xã Lưu Kiền:

Thứ nhất, diện tích đất có rừng đạt 11.452,60 ha chiếm 85,79% tổng diện tích đất lâm nghiệp, nhưng cấu trúc chất lượng rừng đang bị suy giảm nghiêm trọng. Rừng gỗ tự nhiên có 5.428,00 ha, trong đó rừng nghèo và nghèo kiệt chiếm tới 4.285,80 ha tương đương 78,95% diện tích rừng gỗ, rừng tre nứa chiếm 2.692,00 ha và rừng hỗn giao chiếm 2.539,30 ha. Ngược lại, diện tích rừng giàu chỉ đạt 556,00 ha tương đương 10,24% và rừng trung bình đạt 586,10 ha tương đương 10,80%, chủ yếu phân bố cục bộ tại bản Lưu Phong và bản Xoóng Con.

Thứ hai, mô hình giao khoán bảo vệ rừng có sự phân hóa rõ rệt giữa các chủ thể. Tổng diện tích rừng đã giao khoán đạt 7.966,26 ha chia thành 3 nhóm: giao khoán rừng tự nhiên sản xuất cho hộ gia đình chiếm 2.926,92 ha với 666 hộ tham gia tương đương 68,66% tổng số hộ; giao khoán rừng sản xuất cho cộng đồng quản lý đạt 4.370,74 ha với 232 hộ phân bổ trong 28 nhóm hộ chiếm 23,92% tổng số hộ; và nhận khoán rừng phòng hộ chỉ có 34 hộ tại 2 bản tham gia với diện tích 668,60 ha chiếm 3,51% số hộ.

Thứ ba, áp lực sinh kế dẫn đến các hành vi vi phạm lâm luật diễn ra thường xuyên. Trong giai đoạn 2012–2016, địa phương đã phát hiện và xử lý 24 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 23 vụ phá rừng làm nương rẫy chiếm 95,83% tổng số vụ vi phạm. Đỉnh điểm là năm 2013 ghi nhận 7 vụ và năm 2016 ghi nhận 6 vụ vi phạm. Tuy nhiên, công tác phòng cháy chữa cháy rừng được kiểm soát tốt, duy trì 0 ha rừng bị cháy trong suốt 5 năm nghiên cứu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến sự tham gia của người dân dừng lại ở nấc thang tham gia hình thức xuất phát từ rào cản kinh tế và thủ tục hành chính. Đơn giá nhận khoán bảo vệ rừng còn rất thấp, trong khi đất nông nghiệp toàn xã chỉ có 325,30 ha chiếm 2,33% diện tích tự nhiên, khiến áp lực phá rừng mở rộng diện tích gieo trồng luôn hiện hữu. Các quy định tại Quyết định 178/2001/QĐ-TTg và Nghị định 117/2011/NĐ-CP về thủ tục phê duyệt phương án khai thác lâm sản ngoài gỗ quá phức tạp, khiến người dân không thể tiếp cận nguồn lợi hợp pháp.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu trước đây của các chuyên gia đầu ngành lâm nghiệp tại Việt Nam khi nhận định rằng cộng đồng thiếu động lực tham gia bảo vệ rừng vì cơ chế hưởng lợi không rõ ràng. Về mặt trình bày trực quan, các cấu trúc dữ liệu này có thể được mô hình hóa xuất sắc qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu sử dụng đất và biểu đồ cột chồng thể hiện tỷ lệ nhận khoán đất rừng giữa 28 nhóm hộ tại 6 bản làng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy sự tham gia chủ động của cộng đồng:

Thứ nhất, cải cách cơ chế hưởng lợi và chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Chủ thể thực hiện là Ủy ban nhân dân huyện Tương Dương phối hợp với Hạt Kiểm lâm và Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng tỉnh Nghệ An. Mục tiêu hành động là nâng mức chi trả nhận khoán bảo vệ rừng từ mức bình quân hiện hành lên mức 400.000 đến 500.000 đồng cho mỗi hecta trong một năm. Lộ trình thực hiện hoàn thành trong giai đoạn 2018–2020, đảm bảo 100% các hộ nhận khoán được thanh toán minh bạch qua tài khoản cộng đồng.

Thứ hai, kiện toàn và trao quyền thực chất cho mạng lưới 6 tổ bảo vệ rừng thôn bản. Ban Lâm nghiệp xã Lưu Kiền cùng 6 ban quản lý bản chủ trì tổ chức lại các tổ tuần tra với quy mô 5 đến 10 thành viên mỗi tổ. Tăng cường tần suất tuần tra rừng từ 2 lần lên 3 đến 4 lần mỗi tháng, đặc biệt vào mùa khô hanh từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau khi gió Tây khô nóng có nhiệt độ lên tới 42,5°C. Hoàn thành ban hành quy ước bảo vệ rừng cấp bản trong quý IV năm 2018.

Thứ ba, chuyển đổi sinh kế bền vững và nông lâm kết hợp dưới tán rừng. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện kết hợp Ngân hàng Chính sách xã hội hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho 434 hộ nghèo. Xây dựng mô hình trồng trọt dược liệu, mây tre nứa và chăn nuôi đại gia súc có kiểm soát trên 789,90 ha đất trống có cây tái sinh. Mục tiêu nâng thu nhập bình quân của người dân từ 12,5 triệu đồng lên 20,0 triệu đồng mỗi người một năm vào năm 2022, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 30,0%.

Thứ tư, đổi mới phương thức truyền thông pháp luật lâm nghiệp và áp dụng hệ thống theo dõi diễn biến rừng có sự tham gia. Kiểm lâm địa bàn phối hợp với các tổ chức đoàn thể xã tổ chức các lớp tập huấn song ngữ tiếng Việt và tiếng Thái cho hơn 900 hộ dân. Mục tiêu giảm thiểu 80% số vụ vi phạm chặt phá rừng làm nương rẫy, giữ vững chỉ tiêu 0 vụ cháy rừng trên phạm vi toàn xã.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cao cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý nhà nước và lực lượng kiểm lâm địa bàn tại Ủy ban nhân dân các cấp và các Hạt Kiểm lâm vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Luận văn cung cấp mô hình thực tiễn để tổ chức phân bổ 7.966,26 ha rừng giao khoán, giúp cán bộ thiết lập quy trình làm việc hiệu quả với 28 nhóm hộ và các già làng, trưởng bản.

Nhóm thứ hai là các nhà hoạch định chính sách lâm nghiệp và nông nghiệp nông thôn tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Dữ liệu thực chứng về những rào cản của Quyết định 178/2001/QĐ-TTg là tài liệu quý giá để sửa đổi khung chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và đơn giản hóa thủ tục khai thác lâm sản phụ.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm nghiệp đô thị và Phát triển nông thôn. Công trình là bài mẫu chuẩn mực về việc ứng dụng tích hợp các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn, đánh giá có sự tham gia, ma trận điểm mạnh điểm yếu cơ hội thách thức và sơ đồ tổ chức không gian.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ, các ban quản lý dự án bảo tồn thiên nhiên quốc tế hoạt động tại khu vực Bắc Trung Bộ. Luận văn cung cấp phân tích sâu sắc về mối quan hệ giữa tỷ lệ 46,5% hộ nghèo và áp lực tài nguyên, làm cơ sở xây dựng các gói tài trợ sinh kế vùng đệm.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại xã Lưu Kiền vẫn còn mang tính hình thức? Mặc dù có tới 68,66% số hộ tham gia nhận khoán rừng sản xuất, sự tham gia chủ yếu dừng lại ở việc tiếp nhận thông tin và ký cam kết. Người dân chưa được tham gia bàn bạc quy hoạch hay phân chia lợi ích gỗ, do các văn bản hướng dẫn hành chính còn quá phức tạp khiến quyền tự quyết của 6 bản làng bị hạn chế.

Yếu tố khí hậu cực đoan nào đe dọa trực tiếp đến tài nguyên rừng xã Lưu Kiền? Hiện tượng gió Tây khô nóng xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 7 với nhiệt độ cực đại lên tới 42,5°C và độ ẩm không khí giảm sâu xuống mức 19% là mối đe dọa lớn nhất. Khí hậu khắc nghiệt kết hợp tập quán đốt dọn nương rẫy tạo ra nguy cơ cháy rừng trên 13.349,70 ha đất lâm nghiệp.

Cỡ mẫu khảo sát 49 hộ gia đình có đảm bảo tính đại diện khoa học cho toàn xã không? Mẫu nghiên cứu 49 hộ chiếm 5,05% tổng số 970 hộ toàn xã được chọn theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên qua 3 nhóm thu nhập tại cả 6 bản. Cỡ mẫu này kết hợp 294 lượt phỏng vấn và phỏng vấn sâu toàn bộ 6 trưởng bản cùng kiểm lâm địa bàn hoàn toàn bảo đảm độ tin cậy thống kê.

Sự khác biệt cốt lõi giữa quản lý rừng cộng đồng và quản lý rừng dựa vào cộng đồng là gì? Quản lý rừng cộng đồng là hình thức người dân tự quản lý diện tích rừng thuộc sở hữu chung của thôn bản theo quy ước. Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là việc người dân phối hợp bảo vệ diện tích rừng thuộc sở hữu Nhà nước như 668,60 ha rừng phòng hộ để nhận tiền khoán và dịch vụ sinh thái.

Giải pháp căn cơ nhất để triệt tiêu 23 vụ phá rừng làm nương rẫy tại địa phương là gì? Giải pháp đột phá là chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên 1.897,10 ha đất trống quy hoạch lâm nghiệp sang mô hình nông lâm kết hợp. Khi thu nhập từ nghề rừng vượt mốc 12,5 triệu đồng mỗi người một năm, người dân sẽ tự nguyện chấm dứt tập quán du canh nương rẫy truyền thống.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng 13.349,70 ha đất lâm nghiệp tại xã Lưu Kiền, chỉ ra thực trạng rừng nghèo chiếm tới 78,95% diện tích rừng gỗ tự nhiên.
  • Đánh giá chi tiết cơ cấu nhận khoán bảo vệ rừng với 666 hộ gia đình quản lý 2.926,92 ha và 28 nhóm hộ quản lý 4.370,74 ha rừng sản xuất.
  • Nhận diện chính xác 23 vụ vi phạm phá rừng làm nương rẫy xuất phát từ áp lực sinh kế của 434 hộ nghèo và mức tiền công nhận khoán chưa thỏa đáng.
  • Hệ thống hóa 4 nhóm giải pháp đồng bộ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, kiện toàn 6 tổ bảo vệ rừng và phát triển sinh kế dưới tán rừng.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng giúp chuyển giao quyền lực quản trị tài nguyên cho cộng đồng bản địa, bảo tồn bền vững độ che phủ 81,9% tại miền Tây Nghệ An.

Để hiện thực hóa các mục tiêu quản lý rừng bền vững, chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý lâm nghiệp cần nhanh chóng triển khai thí điểm các mô hình đồng quản lý và hỗ trợ sinh kế cho người dân ngay từ quý I năm 2018. Việc đồng thuận trao quyền và chia sẻ lợi ích công bằng cho cộng đồng dân cư thôn bản chính là chìa khóa then chốt để giữ màu xanh cho những cánh rừng đầu nguồn.