ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là Quốc gia có 54 dân tộc sinh sống, mỗi cộng đồng dân tộc khác nhau sẽ có hình thức quản lý rừng khác nhau. Trên thực tế các hình thức quản lý rừng trực tiếp bởi cộng đồng đã xuất hiện từ lâu đời trên mọi miền tổ quốc. Truyền thống quản lý rừng của họ được thể hiện ở những lệ tục giữ rừng, trồng cây, xây dựng hương ước – quy ước, luật tục bảo vệ rừng, bảo vệ cây cối của nhiều làng xã. Do đó, vai tr của cộng đồng người dân sống gần rừng trong việc quản lý bảo vệ, phát triển rừng và tài nguyên rừng rất quan trọng.
Nếu phát huy được vai tr đó thì việc quản lý tài nguyên rừng sẽ hiệu quả và bền vững. Việc phát huy vai tr tham gia của các cộng đồng trong việc quản lý nguồn tài nguyên này vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống dân tộc vừa có thể tạo ra một cách quản lý rừng có hiệu quả và bền vững hơn. Lâm nghiệp cộng đồng có thể góp phần đáng kể vào xóa đói giảm nghèo và giảm thiểu biến đổi kh hậu. Mặc dù công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta đã đạt được nhiều kết quả ấn tượng nhưng tại các vùng xa xôi hẻo lánh nhiều rừng vẫn c n nhiều người dân sống trong cảnh nghèo khó.
Trong khi đó, rừng là kho tàng cung cấp tài nguyên cho người dân địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu và tạo thu nhập. Ngoài ra, rừng c ng có thể là một nguồn thu nhập quan trọng cho người dân địa phương nếu các kế hoạch về PFES và REDD+ được thực hiện trên toàn quốc. Phát triển Lâm nghiệp cộng đồng có thể làm gia tăng lợi ch thu được từ rừng cho người dân địa phương, đặc biệt là cho người nghèo. Người dân thôn bản có thể thu được lợi ch từ các nguồn thu được tạo ra từ hoạt động khai thác gỗ của cộng đồng, như đã được đưa ra trong nhiều dự án th điểm với sự hỗ trợ của GIZ và Kfw.
Ngoài ra, họ có thể tạo thu nhập từ các hợp đồng PFES và REDD+ cao hơn nhiều so với mức chi trả từ Chương trình 661. Năm 1994, thực hiện nghị quyết 02 của Ch nh phủ và xuất phát từ yêu cầu quản lý rừng, một số địa phương c ng như ở H a Bình đã triển khai giao đất, giao rừng cho cộng đồng quản lý, nhóm hộ và hộ sử dụng ổn định, lâu dài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 vào mục đ ch lâm nghiệp, theo đó cộng đồng với tư cách như một chủ rừng. Ngoài ra, công tác khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng mới rừng của các tổ chức Nhà nước c n có sự tham gia của các cộng đồng. Thực tiễn cho thấy một số nơi sự tham gia của các cộng đồng địa phương sống gần rừng đối với quản lý rừng là mô hình quản lý rừng có t nh khả thi về kinh tế - xã hội, phù hợp với tập quán sản xuất truyền thống của nhiều dân tộc ở Việt Nam.
Năm 2006, Dự án phát triển lâm nghiệp tỉnh H a Bình (Kfw7 được triển khai. Một trong những mục tiêu của Dự án là thực hiện quản lý rừng cộng đồng 2.844 ha/17 cộng đồng dân cư thôn; quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng dân cư; phát triển cộng đồng; bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, huyện Kim Bôi. Theo báo cáo đánh giá kết thúc dự án cho thấy: Dự án đã thiết lập rừng, trồng rừng, tái sinh tự nhiên và quản lý, bảo vệ rừng trên 5.500 ha, đạt 115% kế hoạch. Thực hiện quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng trên 2.800 ha, đạt 75% kế hoạch về diện t ch và 17/17 mô hình, đạt 100% kế hoạch.
Hai mục tiêu về phát triển cộng đồng và bảo tồn đa dạng sinh học đều đạt 100% kế hoạch (Đinh thắng, 2018. Có hàng loạt câu hỏi đang đặt ra, như: Thực trạng quản lý và sử dụng rừng của cộng đồng như thế nào? Tại sao trong điều kiện hạn chế về quyền hưởng dụng từ rừng ph ng hộ đầu nguồn, nhưng cộng đồng và HGĐ người dân tộc Mường vẫn quan tâm đến bảo vệ và phát triển rừng? Vậy, động lực để họ thực hiện là gì? Những vấn đề khó khăn và thách thức tác động đến việc thực hiện bảo vệ và phát triển rừng ph ng hộ của cộng đồng và HGĐ người dân tộc Mường là gì? Những giải pháp chính sách và giải pháp kỹ thuật nào cần được đề xuất để bổ sung và hoàn xây dựng rừng cộng đồng?vv. Xuất phát từ yêu cầu trên, đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng cộng đồng tại thôn Mõ, xã Kim Sơn, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình” là rất cần thiết nhằm luận giải những câu hỏi nghiên cứu nêu trên để đề ra những giải pháp ch nh sách và các giải pháp kỹ thuật, góp phần cho công cuộc xóa đói giảm nghèo và ứng phó với biến đổi kh hậu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1.
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Khái niệm về quản lý rừng cộng đồng Lâm nghiệp cộng đồng được định nghĩa theo nhiều cách, có lúc c n khác nhau. Những định nghĩa rộng hơn dùng thuật ngữ này để chỉ những hoạt động có liên quan đến mối quan hệ giữa con người với cây cối. Các định nghĩa hẹp hơn tập trung vào việc quản lý rừng bởi cộng đồng địa phương có lợi ch của mình.
Theo FAO (1978), Lâm nghiệp cộng đồng (Community Forestry , lâm nghiệp xã hội (Social Forestry là những thuật ngữ được dung để chỉ việc quản lý rừng có liên quan chặt chẽ với người dân địa phương. Cho đến nay chưa có một thống nhất nào cho các thuật ngữ này ở Việt Nam mặc dù đã có những cuộc hội thảo quốc gia về rừng cộng đồng. Theo Arnold (1992), định nghĩa tổng quát về lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ , hiểu một cách ch nh xác và thiết thực nhất thì LNCĐ là một thuật ngữ bao trùm hàng loạt các hoạt động gắn kết người dân nông thôn với cây và rừng c ng như các sản phẩm và lợi ch thu được từ cây rừng. Quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ hay Quản lý rừng cộng đồng dựa vào cộng đồng được hiểu là sự tham gia của người dân địa phương, nhóm hộ hay từng hộ gia đình trong quản lý, bảo vệ và sử dụng rừng và đất rừng.
Cộng đồng quản lý rừng trực tiếp của cộng đồng c ng như quản lý rừng của các tổ chức khác. Thuật ngữ quản lý lâm nghiệp cộng đồng (QLLNCĐ thường được sử dụng để đề cập tới việc quản lý những tập hợp cây cối của các nhóm người. QLLNCĐ là một cách nói lâm nghiệp cộng đồng có t nh chất giới hạn và là một phương pháp chỉ áp dụng cho đất lâm nghiệp, không có sự tham gia trực tiếp của kỹ thuật nông nghiệp c ng như khuyến nông. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Thuật ngữ quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam theo chúng tôi hiểu là sự tham gia của cộng đồng địa phương trong việc quản lý (tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yếu cầu nhất định những diện t ch rừng do cộng đồng trực tiếp quản lý sử dụng chung (được Nhà nước giao hoặc thuộc quyền quản lý truyền thống hay những diện t ch rừng của các tổ chức Nhà nước khác thông qua các hợp đồng khoán.
Tóm lại; QLRCĐ cần được nhìn nhận là một cách quản lý để đạt được mục tiêu quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng bền vững hiện c n và cho phép người dân địa phương có quyền quản lý, sử dụng lâu dài các nguồn tài nguyên rừng, lợi ch thu được thuộc về người dân địa phương và được sử dụng cho sự phát triển nông thôn. Hình thức này được hình thành trên cơ sở kiến thức bản địa của người dân đia phương. Công tác QLRCĐ dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau: Có sự tham gia của người dân - Các hoạt động độc lập tiếp nối quy trình lập kế hoạch chỉ có thể được thực hiện thành công nếu người dân liên quan được tham gia đầy đủ vào các quy trình ra quyết định và hiểu rõ kết quả cuối cùng của quá trình lập kế hoạch. Nếu người dân không quan tâm đến công tác quản lý rừng và không thể hiện được vai tr chủ động của mình trong quá trình ra quyết định, việc thực hiện trên thực tế sẽ cho ra kết quả nửa vời, hoặc có khả năng bị hiểu nhầm và thậm ch thất bại trong khi thực hiện.
Đơn giản - để mọi người đều hiểu rõ vấn đề đang xảy ra và có thể thực hiện nó. Hiệu quả về chi phí - đảm bảo thực hiện được các quy trình QLRCĐ chỉ với nguồn lực sẵn có của địa phương. Tính tương ứng - đảm bảo quy trình lập kế hoạch QLRCĐ chỉ cung cấp các thông tin cần thiết cho công tác quản lý rừng. Tăng cường quản lý bền vững các nguồn tài nguyên rừng đồng thời giảm thiểu các tác động tiêu cực có thể xảy ra trong tương lai.
Phản ánh nhu cầu của người dân địa phương LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 trong đánh giá và sử dụng các nguồn tài nguyên rừng (và không chỉ đơn thuần sử dụng biện pháp cấm khai thác các loại lâm sản. QLRCĐ chỉ có thể trở nên bền vững nếu các quy trình phù hợp với khuôn khổ ch nh sách pháp ly hiện hành. Tổng luận về các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Tại châu Á, t nh đến năm 2007, khoảng 18% tổng diện t ch rừng đang được quản lý bởi người dân và cộng đồng địa phương.
Do sự tin tưởng vào khả năng cải thiện cuộc sống và sinh kế cho khoảng 450 triệu người sinh sống trong và gần rừng nên mô hình QLRCĐ đã thu hút được sự quan tâm của người dân (Ngô Tùng Đức, Trần Nam Thắng, 2015. Rừng ở châu Á được coi là một trong những tài nguyên công cộng quan trọng nhất, quản lý rừng công cộng bàn tới mọi phương thức quản lý rừng dựa trên cơ sở nhóm.