Tổng quan nghiên cứu

Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là một trong những phương thức tiếp cận bền vững nhằm gắn kết quyền lợi của người dân địa phương với công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Tại xã Kim Sơn, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, tổng diện tích đất lâm nghiệp năm 2018 đạt 2.095,37 ha, trong đó đất có rừng chiếm 964,55 ha, tương đương 39,31% diện tích tự nhiên của toàn xã. Toàn xã có 832 hộ gia đình với 3.824 nhân khẩu, trong đó đồng bào dân tộc Mường chiếm tới 98%. Thôn Mõ là địa bàn tập trung diện tích rừng cộng đồng lớn với 428,38 ha và 317 hộ dân sinh sống, chiếm 38,1% tổng số hộ của xã.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực tế diện tích 428,38 ha rừng tự nhiên giao cho thôn Mõ quản lý từ năm 1994 theo Nghị định 02/CP đang bị suy giảm nghiêm trọng về trữ lượng, chuyển từ trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy sang trạng thái rừng nghèo kiệt sau khai thác. Thêm vào đó, việc thiếu hụt Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cấp cho tập thể cộng đồng đã tạo ra nhiều bất cập trong cơ chế quản lý và phân chia lợi ích.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là đánh giá toàn diện hiện trạng rừng, phân tích cơ cấu quản lý thực tế, làm rõ mối quan hệ giữa các bên liên quan và đề xuất hệ thống giải pháp chính sách cùng kỹ thuật lâm sinh khả thi. Nghiên cứu được triển khai tại thôn Mõ từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 11 năm 2019. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quyết định trong việc duy trì độ tàn che rừng đạt khoảng 0,4, nâng cao sinh kế khi nguồn thu từ rừng đang đóng góp tới 37% tổng thu nhập của các hộ nghèo tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng và lý thuyết thể chế trong quản lý lâm nghiệp. Theo tiếp cận của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc năm 1978 và Arnold năm 1992, lâm nghiệp cộng đồng là hệ thống các hoạt động gắn kết chặt chẽ người dân nông thôn với tài nguyên rừng, bảo đảm quyền tham gia ra quyết định và hưởng lợi lâu dài của cộng đồng bản địa. Nghiên cứu tích hợp lý thuyết đồng quản lý và cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn sinh thái và nhu cầu mưu sinh của người dân miền núi.

Hệ thống khung pháp lý cốt lõi bao gồm Luật Đất đai năm 2013, Luật Dân sự năm 2015, Luật Lâm nghiệp năm 2017 cùng các văn bản hướng dẫn như Nghị định 135/2005/NĐ-CP và Nghị định 75/2015/NĐ-CP về giao khoán bảo vệ rừng. Nghiên cứu vận dụng 4 khái niệm cơ bản: Lâm nghiệp cộng đồng, Quản lý rừng cộng đồng, Quy ước bảo vệ rừng và Chi trả dịch vụ môi trường rừng. Khung phân tích này cho phép đánh giá mức độ thích ứng giữa quy định pháp luật hiện hành với tập quán quản lý truyền thống của người Mường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thu thập tại thực địa. Dữ liệu thứ cấp bao gồm báo cáo kinh tế xã hội xã Kim Sơn năm 2018, số liệu kiểm kê rừng của Hạt Kiểm lâm huyện Kim Bôi và hồ sơ Dự án Khoanh nuôi bảo vệ rừng năm 2014.

Về dữ liệu sơ cấp, phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng để phỏng vấn sâu 7 cán bộ chuyên trách gồm 2 cán bộ địa chính xã, 1 kiểm lâm địa bàn, 2 cán bộ thôn và 2 đại diện ban quản lý rừng. Cỡ mẫu phỏng vấn hộ gia đình gồm 15 nông dân chủ chốt, được chia đều thành 3 nhóm: 5 hộ khá, 5 hộ trung bình và 5 hộ nghèo. Đồng thời, tác giả tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm tập trung với quy mô 5 người mỗi nhóm, đại diện cho lực lượng trực tiếp và gián tiếp tham gia bảo vệ rừng.

Dữ liệu điều tra ô tiêu chuẩn trên 22 thửa rừng được thu thập để đo đếm các chỉ tiêu lâm học như đường kính thân cây dao động từ 12 cm đến 18 cm, chiều cao vút ngọn từ 8 m đến 12 m và mật độ tái sinh từ 377 đến 530 cây/ha. Phương pháp thống kê lâm nghiệp và xử lý dữ liệu định lượng trên phần mềm Microsoft Excel được lựa chọn vì tính chính xác cao, giúp minh chứng rõ nét biến động chất lượng rừng và phân hóa thu nhập hộ gia đình trong giai đoạn từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 11 năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, chất lượng rừng cộng đồng thôn Mõ bị suy thoái rõ rệt qua 20 năm quản lý. Toàn bộ 428,38 ha rừng thuộc 22 thửa đất năm 1994 đạt trạng thái IIa đã chuyển thành trạng thái IIb vào năm 2014. Cấu trúc tầng tán hiện tại tương đối nghèo kiệt với độ tàn che chỉ đạt 0,4, đường kính bình quân từ 12 cm đến 18 cm. Tổ thành loài cây ưu thế chủ yếu gồm 4 loài chính theo công thức 3 Sâng + 2 Ngát + 2 Bồ Đề + 3 Vàng Anh, mật độ cây tái sinh đạt mức trung bình từ 377 đến 530 cây/ha.

Thứ hai, cơ cấu thu nhập của các nhóm hộ có sự phân hóa sâu sắc về mức độ phụ thuộc vào tài nguyên rừng. Lâm sản và các sản phẩm từ rừng đóng góp tới 37% trong tổng cơ cấu thu nhập của nhóm hộ nghèo, trong khi tỷ trọng này ở nhóm hộ trung bình là 13% và nhóm hộ khá chỉ chiếm 4%. Thu nhập bình quân đầu người toàn xã đạt mức thấp khoảng 18 triệu đồng mỗi người một năm.

Thứ ba, cơ chế tài chính từ nguồn hỗ trợ khoanh nuôi bảo vệ rừng được phân bổ theo tỷ lệ: 70% nộp vào quỹ thôn phục vụ công trình công cộng, 10% chi trả cho tổ tuần tra bảo vệ rừng thôn, 10% hỗ trợ Ban chỉ đạo bảo vệ rừng xã và 10% dành cho Ban quản lý cùng tổ giúp việc thôn.

Thứ tư, tình hình vi phạm lâm luật vẫn diễn biến phức tạp. Trong giai đoạn 2015-2018, trên địa bàn xảy ra 11 vụ vi phạm hành chính, bao gồm 8 vụ lấn chiếm đất rừng và 3 vụ phá rừng trái phép, dù đã tổ chức 28 buổi tuyên truyền pháp luật thu hút 2.203 lượt người tham gia.

Thảo luận kết quả

Sự suy giảm chất lượng rừng từ trạng thái IIa xuống IIb chủ yếu bắt nguồn từ giai đoạn buông lỏng quản lý từ năm 1998 đến năm 2001, khi các hộ gia đình khai thác gỗ tự do và mở rộng nương rẫy. Dữ liệu nghiên cứu khi biểu diễn trên đồ thị hình quạt về cơ cấu thu nhập đã phản ánh rõ: Hộ nghèo có mức phụ thuộc vào rừng cao gấp 9,25 lần so với hộ khá. Kết quả này tương đồng với các công bố của Nguyễn Bá Ngãi năm 2009 và Phạm Gia Thanh năm 2011, khẳng định áp lực sinh kế của hộ nghèo là nguyên nhân chính dẫn đến suy thoái rừng tự nhiên.

Bên cạnh đó, việc so sánh bảng biểu phân bổ ngân sách cho thấy mức trích 10% cho tổ bảo vệ rừng gồm 28 thành viên là quá thấp, chưa tạo đủ động lực kinh tế để duy trì tuần tra thường xuyên trên diện tích 428,38 ha địa hình chia cắt phức tạp. Thiếu hụt tư cách pháp nhân tập thể của cộng đồng dân cư theo Luật Lâm nghiệp năm 2017 khiến quyền hưởng dụng từ 677,8 ha rừng phòng hộ toàn xã chưa được phát huy đầy đủ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế giao đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp tập thể cho cộng đồng thôn Mõ. Ủy ban nhân dân huyện Kim Bôi cùng Phòng Tài nguyên và Môi trường cần tiến hành đo đạc, thẩm định và cấp sổ đỏ cho 100% diện tích 428,38 ha rừng cộng đồng trong giai đoạn 2020-2022 nhằm xác lập địa vị pháp lý chủ rừng thực thụ cho người dân.

Thứ hai, tái cấu trúc cơ chế tài chính và nâng cao năng lực cho lực lượng bảo vệ rừng cấp cơ sở. Ủy ban nhân dân xã Kim Sơn và Ban quản lý thôn Mõ cần điều chỉnh quy ước thôn, tăng tỷ lệ trích từ nguồn dịch vụ môi trường rừng cho 4 tổ bảo vệ rừng với 28 đội viên từ mức 10% lên 25-30% tổng nguồn thu. Thời gian áp dụng bắt đầu ngay từ Quý I năm 2020 nhằm đảm bảo mỗi tuần có ít nhất 1 đợt tuần tra thực địa.

Thứ ba, triển khai đồng bộ các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng. Hạt Kiểm lâm Kim Bôi phối hợp với cộng đồng tiến hành khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung các loài cây bản địa có giá trị như Lát hoa, Re hương và Dổi trên diện tích 428,38 ha. Mục tiêu kỹ thuật là nâng độ tàn che từ 0,4 lên 0,65 và nâng mật độ cây tái sinh mục đích đạt trên 800 cây/ha vào năm 2025.

Thứ tư, phát triển sinh kế bền vững dưới tán rừng và nông lâm kết hợp. Trạm Khuyến nông huyện và các tổ chức xã hội cần xây dựng mô hình trồng cây dược liệu, thâm canh măng bát độ và chăn nuôi lợn bản địa cho 317 hộ dân thôn Mõ. Mục tiêu đặt ra là giảm tỷ lệ phụ thuộc thu nhập vào khai thác gỗ tự nhiên của nhóm hộ nghèo từ 37% xuống dưới 15% trong vòng 3 năm tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý nhà nước tại các cơ quan kiểm lâm, phòng tài nguyên môi trường và chính quyền địa phương cấp huyện, xã. Luận văn cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng quy chế phối hợp giữa kiểm lâm địa bàn với 4 tổ đội tuần tra thôn xóm và điều chỉnh định mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng.

Nhóm thứ hai là các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng và Kinh tế nông nghiệp. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp đánh giá động thái cấu trúc lâm phần IIb và kỹ thuật điều tra xã hội học nông thôn có sự tham gia của người dân bản địa.

Nhóm thứ ba là các ban quản lý dự án quốc tế và tổ chức phi chính phủ đang hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học và thích ứng biến đổi khí hậu như KfW, GIZ. Các tổ chức này có thể ứng dụng các bài học kinh nghiệm từ mô hình quản lý 428,38 ha rừng thôn Mõ để thiết kế dự án REDD+ và chi trả dịch vụ môi trường rừng hiệu quả hơn.

Nhóm thứ tư là trưởng thôn, già làng và thành viên ban quản lý rừng tại các cộng đồng dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc. Bản luận văn mang lại cẩm nang thực tế giúp cộng đồng tự xây dựng hương ước giữ rừng, tổ chức tuần tra và quản lý minh bạch nguồn quỹ tập thể.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến rừng thôn Mõ chuyển từ trạng thái IIa sang IIb là gì? Sự suy giảm bắt nguồn từ giai đoạn 1998-2001 khi công tác quản lý của thôn bị buông lỏng, dẫn đến tình trạng khai thác trộm gỗ và lâm sản diễn ra trên diện rộng. Cấu trúc tầng cây gỗ lớn bị phá vỡ, khiến rừng chỉ còn các cây đường kính dưới 20 cm với độ tàn che 0,4.

Tại sao cộng đồng dân tộc Mường vẫn gắn bó với việc giữ rừng dù quyền khai thác bị hạn chế? Người Mường tại thôn Mõ phụ thuộc lớn vào nguồn nước sinh hoạt, tưới tiêu từ 1 hồ chứa và các khe suối đầu nguồn. Thêm vào đó, rừng cung cấp nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm tới 37% thu nhập của hộ nghèo và tạo nguồn quỹ chung 70% từ tiền chi trả khoanh nuôi bảo vệ.

Cơ cấu quản lý bảo vệ rừng tại xã Kim Sơn được tổ chức theo mô hình nào? Mô hình vận hành theo cấu trúc 4 cấp gồm Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo, Hạt Kiểm lâm làm thường trực hỗ trợ Ủy ban nhân dân xã, Ban quản lý thôn Mõ điều hành và 4 tổ bảo vệ rừng cơ sở với 28 thành viên trực tiếp tuần tra tại hiện trường.

Tại sao cần cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cộng đồng thôn thay vì hộ đại diện? Việc giao khoán cho hộ đại diện theo Nghị định 02/CP năm 1994 tạo ra kẽ hở pháp lý và thiếu tính bền vững. Cấp sổ đỏ tập thể cho cộng đồng theo Luật Lâm nghiệp năm 2017 giúp bảo đảm sở hữu chung hợp nhất, ngăn chặn tình trạng mua bán đất trái phép và giảm 8 vụ lấn chiếm đất rừng.

Làm thế nào để nâng cao thu nhập cho đội tuần tra rừng thôn Mõ? Cần sửa đổi quy chế quản lý quỹ, nâng tỷ lệ trích thưởng trực tiếp từ 10% lên 25-30% nguồn thu bảo vệ rừng. Đồng thời, xã cần lồng ghép ngân sách từ các chương trình mục tiêu quốc gia 30A và dịch vụ môi trường rừng để bồi dưỡng ngày công tuần tra đạt mức tối thiểu 150.000 đồng mỗi ngày.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng 428,38 ha rừng cộng đồng thôn Mõ đang ở trạng thái nghèo kiệt IIb với độ tàn che 0,4 và công thức tổ thành gồm 4 loài cây ưu thế.
  • Nghiên cứu chỉ rõ mức độ phụ thuộc sinh kế của nhóm hộ nghèo vào rừng lên tới 37% tổng thu nhập, phản ánh mâu thuẫn lớn giữa bảo tồn và kinh tế hộ.
  • Mô hình quản lý hiện tại bộc lộ nhiều điểm nghẽn, đặc biệt là nguồn thù lao cho 28 tuần tra viên chỉ chiếm 10% quỹ hỗ trợ và để xảy ra 11 vụ vi phạm lâm luật trong 4 năm.
  • Công trình đã đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá về cấp quyền sử dụng đất tập thể, tái cơ cấu nguồn quỹ, áp dụng kỹ thuật lâm sinh làm giàu rừng và tạo sinh kế phi gỗ.
  • Đóng góp khoa học then chốt của tác giả là luận giải thực chứng mối quan hệ giữa tập quán người Mường và khung pháp lý lâm nghiệp mới.

Trong thời gian từ năm 2020 đến năm 2022, chính quyền địa phương cần khẩn trương hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho thôn Mõ và mở rộng áp dụng mô hình cho toàn huyện Kim Bôi. Hãy liên hệ với cơ quan quản lý lâm nghiệp địa phương hoặc tác giả để cùng hợp tác triển khai các giải pháp bảo vệ rừng bền vững ngay hôm nay.