Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm * Khái niệm nước sinh hoạt Nguồn nước có thể cung cấp nước sinh hoạt hoặc có thể xử lý thành nước sinh hoạt đáp ứng tối thiểu theo yêu cầu tại QCVN 02:2009/BYT của bộ Y tế, sau hệ thống phân phối, dùng trong sinh hoạt gọi là nước sinh hoạt. Nước cung cấp cho sinh hoạt tại khu vực nông thôn nêu tại đây bao hàm nước cấp ở những vùng nông thôn thuần tuý cùng các đô thị nhỏ loại V với số dân không quá 30. * Khái niệm về quản lý công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn Là việc thực thi các chính sách do hội đồng quyết định và phối hợp các hoạt động hàng ngày để đạt được mục đích và mục tiêu của cơ quan hay tổ chức.
Nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn thông qua cải thiện các dịch vụ cấp nước sinh hoạt; nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của cộng đồng về bảo vệ môi trường. Giảm tác động xấu do điều kiện cấp nước kém gây ra đối với sức khoẻ của dân cư nông thôn và giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn. * Mô hình quản lý và khai thác công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam [16], mô hình được hiểu: - Theo nghĩa hẹp là mẫu, khuôn, tiêu chuẩn theo đó mà chế tạo ra sản phẩm hàng loạt. - Theo nghĩa rộng là hình ảnh (hình tượng, sơ đồ, sự mô tả.) ước lệ của một khách thể (hay một hệ thống các khách thể, các quá trình hoặc hiện tượng).
Khái niệm mô hình được sử dụng rông rãi trong triết học, ngôn ngữ học, kinh tế học. Trong kinh tế học, mô hình được hiểu là hình ảnh mang tính chất quy ước của đối tượng nghiên cứu, diễn tả các mối quan hệ đặc trưng giữa các yếu tố của một hệ thống thực tế trong tự nhiên, xã hội. 6 Như vậy, mô hình quản lý và khai thác công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn có thể hiểu là hình ảnh (hình tượng, sơ đồ, sự mô tả.) mang tính chất quy ước của một hệ thống quản lý công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn cụ thể trong thực tiễn. * Quan điểm về quản lý và khai thác công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn Phát huy nội lực của toàn xã hội để thực hiện Chương trình, đồng thời phải căn cứ đặc điểm của từng vùng, từng địa phương và nhu cầu của người sử dụng để lựa chọn quy mô công nghệ, cấp độ dịch vụ phù hợp với khả năng tài chính và công tác quản lý, khai thác, sử dụng công trình sau đầu tư.
Đẩy mạnh công tác xã hội hoá, phát triển thị trường nước sạch và dịch vụ vệ sinh môi trường nông thôn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nhà nước có cơ chế, chính sách hỗ trợ đối tượng nghèo, gia đình chính sách, vùng đồng bào dân tộc và vùng đặc biệt khó khăn về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Vai trò, vị trí của nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là một vấn đề được Đảng, Nhà nước quan tâm đặc biệt và xác định là một bộ phận trong chính sách phát triển nông thôn; Việc đảm bảo cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường là tiêu chí để phát triển nông thôn văn minh, hiện đại, là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước, của các ngành các cấp và chính quyền địa phương. Công trình cấp nước còn được xác định là một trong 8 loại công trình cần xây dựng ở các vùng nông thôn và là một trong 6 loại hạ tầng cơ bản nhất để đánh giá điều kiện thoát nghèo ở các xã khó khăn (điện, đường, trường học, trạm xá, nước sạch và chợ).
Bên cạnh đó Việt Nam cũng đã tham gia từ rất sớm và ký hàng loạt cam kết, tuyên bố quốc tế về xoá đói giảm nghèo, cải thiện cấp nước sạch và vệ sinh môi trường như: Chương trình nước uống và vệ sinh môi trường thế giới; Tuyên bố Dudlin; Mục tiêu thiên niên kỷ. chính vì lẽ đó, việc quản lý nước sinh hoạt nông thôn được xác định có những vai trò, vị trí quan trọng sau: 7 Vai trò đối với kinh tế: Các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn hiện nay nếu được cải tiến và nhân rộng sẽ đem lại lợi ích to lớn, nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn, làm giảm bớt sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Vai trò đối với xã hội: Tăng cường sức khỏe cho dân cư nông thôn bằng cách giảm thiểu các bệnh có liên quan đến nước nhờ cải thiện việc cấp nước sinh hoạt và nâng cao thực hành vệ sinh của dân chúng. Vai trò đối với môi trường: Chống cạn kiệt, chống ô nhiễm, bảo vệ chất lượng nguồn nước ngầm và nước mặt tại các hồ, đầm, sông, suối.
Một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu để thực hiện tốt Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 đã được Chính phủ xác định, đó là: “Xã hội hoá lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn là vận động và tổ chức, tạo cơ sở pháp lý để khuyến khích sự tham gia của nhân dân, của các thành phần kinh tế và toàn xã hội vào sự phát triển cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn nhằm nâng cao điều kiện sống cũng như tăng cường sức khoẻ cho dân cư nông thôn” [2]. Các vấn đề liên quan tới quản lý và khai thác công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn 1. Các yêu cầu của quản lý và khai thác công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn Nâng cao nhận thức của người dân: Nâng cao nhận thức của chính quyền các cấp và nhân dân sống ở nông thôn về việc sử dụng công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nông thôn. Đây là cơ sở hết sức quan trọng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Hiện nay, phần lớn dân cư nông thôn còn thiếu hiểu biết về nước sinh hoạt, bệnh tật và sức khoẻ; về môi trường sống xung quanh mình cần phải được cải thiện và có thể cải thiện được. Kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực cho thấy nếu người nông dân nhận thức rõ được vấn đề thì với sự trợ giúp của Chính phủ, họ có thể vươn lên khắc phục khó khăn, cải thiện được môi trường sống cho mình tốt hơn. 8 Vì vậy, các hoạt động thông tin giáo dục và truyền thông có tầm quan trọng lớn đối với thành công của chiến lược phát triển. Cải tiến tổ chức, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và phát triển nguồn nhân lực: Tổ chức phải thực hiện theo một số nguyên tắc chung, phân công trách nhiệm của từng cấp quản lý từ trung ương tới cấp thấp nhất thích hợp gắn liền với các tổ chức cộng đồng.
Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước. Phát triển nguồn nhân lực nhằm: Cung cấp đủ và sắp xếp cho hợp lý cán bộ nhân viên trong lĩnh vực cho phù hợp với nghề nghiệp và nhiệm vụ; bồi dưỡng cho cán bộ trung ương và địa phương về chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn, các kiến thức và kỹ năng về lập chương trình, kế hoạch, điều phối, quản lý theo cách tiếp cận dựa trên nhu cầu đối với cấp nước sinh hoạt nông thôn; huấn luyện nhân viên chịu trách nhiệm thực thi ở các cấp huyện, xã để thực hiện tốt vai trò mới của mình. Đổi mới cơ chế tài chính, huy động nhiều nguồn vốn để phát triển cấp nước sinh hoạt nông thôn. Cơ chế tài chính phát huy nội lực dựa trên nguyên tắc người sử dụng phải đóng góp phần lớn chi phí xây dựng công trình và toàn bộ chi phí vận hành, duy tu bảo dưỡng và quản lý.
Cấp nước sinh hoạt nông thôn phục vụ cho việc nâng cao sức khoẻ, giảm thiểu các bệnh tật do thiếu nước sạch và kém vệ sinh gây ra, cải thiện điều kiện sinh hoạt cho mọi gia đình. Đó là sự nghiệp của toàn dân, vì vậy cần xã hội hoá công tác này, huy động mọi nguồn vốn trong nước, phát huy nội lực, đồng thời thu hút vốn nước ngoài cho cấp nước sinh hoạt nông thôn. Nghiên cứu phát triển và áp dụng công nghệ thích hợp. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu phát triển trong lĩnh vực cấp nước sinh hoạt nông thôn đồng thời giới thiệu các công nghệ khác nhau cho người sử dụng giúp họ có kiến thức cần thiết để quyết định lựa chọn loại công nghệ phù hợp.
Chiến lược nước sinh hoạt nông thôn Việt Nam Chiến lược Quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn được soạn thảo trong bối cảnh có một số chương trình, dự án cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đã được thực hiện trong nhiều năm nay và chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường được Chính phủ phê duyệt ngày 03/12/1998 thực hiện giai đoạn I từ 1999-2005 và giai đoạn II từ 2006-2010. 9 Chiến lược Quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn sẽ hướng dẫn những nguyên tắc cơ bản: phát triển bền vững, cách tiếp cận dựa trên nhu cầu và xã hội hóa công tác Cấp nước sạch và Vệ sinh nông thôn để chỉ đạo toàn bộ lĩnh vực cũng như các chương trình, dự án về vấn đề này. Trong giai đoạn 1999-2005 đã hình thành một chương trình hành động nhằm hỗ trợ xây dựng năng lực, cải cách tổ chức và các thể chế, trợ giúp kỹ thuật để tạo các tiền đề quan trọng cho việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường và các chương trình dự án khác, đồng thời xây dựng nền móng vững chắc cho việc thực hiện Chiến lược Quốc gia Cấp nước sạch và Vệ sinh nông thôn, cụ thể là: Cần điều chỉnh các chương trình Cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn hiện có như chương trình WATSAN, chương trình phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn do Ngân hàng Phát triển châu Á tài trợ và các dự án Cấp nước sạch và Vệ sinh nông thôn khác sao cho phù hợp với các nguyên tắc cơ bản, cách tiếp cận chung của Chiến lược Quốc gia. Chương trình Mục tiêu Quốc gia nước sạch và Vệ sinh môi trường cũng cần được thực hiện theo các nguyên tắc cơ bản của Chiến lược Quốc gia.