ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá. Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế thông qua việc cung cấp nguồn gỗ, tre, nứa, đặc sản rừng, các loại động, thực vật có giá trị trong nƣớc và xuất khẩu,… mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng. Rừng tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxy và các nguyên tố cơ bản khác, duy trì tính ổn định, độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm mức ô nhiễm không khí, bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trƣờng sống. Bên cạnh đó, rừng còn mang ý nghĩa quan trọng về cảnh quan thiên nhiên và an ninh quốc phòng.
Tuy nhiên, một sự thật đang diễn ra rằng tài nguyên rừng đã và đang bị chặt phá bừa bãi, ngày càng suy giảm về số lƣợng, chất lƣợng và khó đƣợc phục hồi. Ở Việt Nam, năm 1943 độ che phủ của rừng là 43% và đến năm 1995 thì diện tích rừng còn lại 25% [16]. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn đến năm 2015, toàn quốc có tổng diện tích rừng có trên 14 triệu ha rừng, bao gồm 10,1 triệu ha rừng tự nhiên và 3,8 triệu ha rừng trồng. So với năm 2010, tổng diện tích rừng Việt Nam đã tăng lên 700 ngàn ha rừng trong đó rừng trồng tăng 800 triệu ha rừng và rừng tự nhiên giảm 100 ngàn ha rừng[1,6].
Qua con số trên, cho ta thấy diện tích rừng Việt Nam trong những năm gần đây đang tăng về diện tích rừng nhƣng chủ yếu là tăng diện tích các loại rừng trồng trong khi đó diện tích rừng tự nhiên vẫn đang bị suy giảm một cách nghiêm trọng. Trƣớc tình hình đó, Đảng và Nhà nƣớc đã ban hành nhiều chủ trƣơng, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật nhằm mục đích quản lý, bảo vệ và khôi phục lại tài nguyên rừng, nâng cao độ che phủ của rừng. Tuy vậy công tác bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng ở nƣớc ta còn gặp nhiều khó khăn nhƣ: áp lực dân số ở các cùng có rừng tăng nhanh, đời sống khó khăn, ngƣời dân sinh kế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên rừng, trình độ dân trí vùng sâu vùng xa còn thấp, kiến thức bản địa chƣa đƣợc phát huy, công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa phƣơng đang bị xem nhẹ, trình độ, chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ lâm nghiệp hạn chế, các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 chính sách, chủ trƣơng, chƣơng trình của nhà nƣớc còn nhiều bất cập và chƣa đƣợc phát huy tối đa hiệu quả của nó đem lại… Nhƣ vậy, với hiện trạng rừng hiện nay thành quả của các giải pháp quản lý bảo vệ rừng đem đến và những bất cập vẫn đang còn tồn đọng thì việc tìm, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả các giải pháp trong công tác quản lý bảo vệ rừng là một vấn đề cấp bách hiện nay. Muốn nhƣ vậy, việc đề xuất các giải pháp phù hợp đạt hiệu quả cao ở các cấp là rất quan trọng.
Huyện Bố Trạch – tỉnh Quảng Bình cũng không phải là một ngoại lệ. Huyện Bố Trạch có diện tích tự nhiên 212. Toàn huyện có 28 xã và 2 thị trấn đƣợc phân bổ đều ở các vùng: đồng bằng, miền núi, trung du và ven biển; hội tụ đầy đủ hệ thống giao thông đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng biển. Đặc biệt, Bố Trạch có các tuyến đƣờng giao thông huyết mạch chạy qua là đƣờng Hồ Chí Minh, quốc lộ 1A, đƣờng sắt Bắc – Nam và các tỉnh lộ 2 (TL 560), 2B (TL 561), tỉnh lộ 3 (TL 565), tỉnh lộ 11 (TL 566) nối hệ thống quốc lộ 1, đƣờng Hồ Chí Minh và đƣờng 20 (TL 562) tạo thành mạng lƣới giao thông ngang - dọc tƣơng đối hoàn chỉnh.
Hơn nữa, Bố Trạch còn có cửa khẩu Cà Roòng - Noọng Ma (Việt Nam - Lào), có cảng Gianh, các danh thắng nổi tiếng nhƣ Vƣờn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đƣợc UNESCO công nhận di sản thiên nhiên thế giới, khu du lịch, nghỉ mát tắm biển Đá Nhảy là những lợi thế trong phát triển giao lƣu kinh tế, văn hóa xã hội. Bố Trạch có diện tích rộng địa hình đồi núi phù hợp với phát triển rừng trồng nên đem lại hiệu quả kinh tế khá cao. Là nơi có diện tích rừng tự nhiên lớn, mạng lƣới giao thông phức tạp, nhu cầu tiêu thụ gỗ và các lâm sản ngoài gỗ rất lớn, đặc biệt đa phần ngƣời dân sống dựa vào rừng…nên đây cũng là nơi có tình trạng phá rừng, đốt rừng, lấn chiếm đất lâm nghiêp, vận chuyển lâm sản trái phép hoạt động mạnh. Ngoài ra tình hình buôn bán, vận chuyển, săn bắt các loài động vật hoang dã ngày càng diễn ra phức tạp.
Các cơ quan chức năng đã tăng cƣờng truy quét, xử lý các vụ vi phạm và tìm các, phƣơng hƣớng giải pháp hợp lí cho công tác quản lý bảo vệ rừng hiệu quả nhƣng tình hình vi phạm vẫn liên tục xảy ra ở mức độ nghiệm trọng. Đó là một thực tế đáng báo động. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Nhằm tìm hiểu kĩ hơn nữa về công tác quản lý bảo vệ rừng trện địa bàn huyện Bố Trạch – tỉnh Quảng Bình.từ đó, tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng trong lý thuyết và tiến tới áp dụng ngoài thực tiễn, tôi đã thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Bố Trạch – tỉnh Quảng Bình”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới 1. Cơ sở lý luận Đối với các quốc gia trên thế giới tài nguyên rừng đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên rừng đang ngày càng cạn kiệt do nhiều nguyên nhân gây ra nhƣ: biến đối khi hậu, cháy rừng, nạn phá rừng, khai thác rừng quá mức… khiến rừng không thể phục hồi. vì vậy, hiện nay quản lý bảo vệ rừng một cách bền vững là một vấn đề của mọi ngƣời dân trên toàn thế giới để đảm bảo cuộc sống trong tƣơng lai cho các thế hệ sau.
Quản lý rừng bền vững đề cập đến 2 khía cạnh quan trọng là xây dựng, bảo vệ và sử dụng các nguồn tài nguyên rừng phục vụ cho các nhu cầu của con ngƣời phải đƣợc diễn ra một cách thƣờng xuyên, liên tục và ổn định qua các thế hệ. Quản lý và sử dụng rừng bền vững bao gồm các quy trình công nghệ, chính sách và hoạt động, nhằm hội nhập những nguyên lý kinh tế và xã hội mới với các mối quan tâm về môi trƣờng sao cho có thể đồng thời: - Giảm mức độ nguy cơ cho sản xuất - Duy trì và nâng cao sự phục vụ sản xuất - Có thể đứng vững đƣợc kinh tế - Có thể chấp nhận đƣợc về mặt xã hội - Không gây ô nhiễm môi trƣờng Nói cách khác, loại hình sử dụng tài nguyên rừng có thể đƣợc coi là bền vững nếu nhƣ cách sử dụng có tính cân đối về mặt xã hội, có cơ sở về mặt môi trƣờng, đƣợc chấp nhận về mặt chính trị, có tính khả thi về mặt kỹ thuật và phù hợp về mặt kinh tế. Những nghiên cứu liên quan đến đề tài Các nghiên cứu về Chƣơng trình phát triển cộng đồng địa phƣơng (gọi tắt là ELCDP) thực hiện bởi sự tài trợ của FAO với một số nghiên cứu chuyên đề tại nhiều nƣớc khác nhau đã khẳng định rằng, nguồn lợi chủ yếu từ quản lý rừng hay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 các hoạt động từ rừng cần thuộc về các cá nhân hay nhóm của các cộng đồng tham gia. Các nghiên cứu này đã tìm cách mô tả và phân tích các loại hình quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia của nhiều nƣớc khác nhau.
Các vấn đề về tài liệu hóa , đào tạo đã đƣợc triển khai từ những năm 1985. Những trọng tâm về vấn đề xã hội liên quan đến quản lý rừng đã đƣợc nhấn mạnh, nhƣ: nếu những cây hoặc rừng không do ngƣời địa phƣơng quan tâm và cơ chế hành chính (thể chế) không cho phép ngƣời dân tiếp cận lợi ích từ quản lý nó thì các dự án không bao giờ thực hiện đƣợc [31]. Tại Ấn Độ, hình thức điển hình phổ biến nhất là những sự kết hợp thích hợp giữa quản lý từ phía chính phủ và những cá nhân hay những nhóm điển hình thông qua những hình thức kết hợp hết sức đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, có hai hình thức chủ yếu, điển hình, đó là rừng cộng quản (viết tắt tiếng Anh là JFM) và rừng cộng quản có sự tham gia (JPFM).
Sự thay đổi có tính chất chiến lƣợc của Ấn Độ về quản lý tài nguyên rừng nói riêng và tài nguyên thiên nhiên nói chung là xuất phát từ chiến lƣợc của Chính phủ đó là việc coi trọng những nhu cầu cơ bản của ngƣời dân sống gần kề với rừng nhƣ chất đốt, thức ăn gia súc, gỗ làm nhà…và vai trò của họ trong gìn giữ, bảo tồn tài nguyên. Luật đất đai đã tạo điều kiện gây nên động lực cho cá nhân và cộng đồng trồng cây phân tán, trồng rừng tập trung và quản lý bảo vệ rừng hiện có, đặc biệt đối với những thổ dân có truyền thống, tập tục riêng [29]. Tại Bangladesh, lâm nghiệp Cộng đồng đƣợc phát triển nhƣ một hợp phần của giải pháp canh tác và phát triển nông thôn tổng hợp đã đòi hỏi việc thay đổi chính sách cũng nhƣ luật pháp trong ngành lâm nghiệp, trọng tâm là quản lý rừng có sự tham gia, đặc biệt coi trọng vai trò của phụ nữ. Các giải pháp cung cấp dịch vụ kỹ thuật, hỗ trợ khuyến nông và các nghiên cứu định hƣớng theo nhu cầu, đơn đặt hàng là những yếu tố thúc đẩy cho sự thành công cho hình thức quản lý đó [26].
Tại Indonesia, các nghiên cứu về lâm nghiệp xã hội do FAO và các trƣờng Đại học Gadjah Mada và Đại học Wageningen đã làm rõ những thau đổi của chính phủ nhằm hỗ trợ giải pháp lâm nghiệp xã hộ đồng thời thông qua việc vận dụng những kinh nghiệm của các nƣớc khác và thử nghiệm bằng điều kiện thực tế của đất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 nƣớc mình. Nghiên cứu và đạo tạo về quản lý rừng có sự tham gia đã rất đƣợc coi trọng tại Indonesia [31].