Tổng quan nghiên cứu

Huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình sở hữu diện tích tự nhiên rộng lớn lên tới 212.417,63 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm vị trí áp đảo với 171.349,96 ha (tương đương 82,05% tổng diện tích tự nhiên). Tỷ lệ che phủ rừng toàn huyện đạt 76,71% vào năm 2015, giữ vai trò lá chắn sinh thái xung yếu và vùng đệm vững chắc cho Di sản Thiên nhiên Thế giới Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên rừng quý giá này đang chịu áp lực suy thoái nghiêm trọng do áp lực dân số, tập tục khai thác gỗ làm nhà ở, hoạt động chặt phá rừng và chuyển đổi đất lâm nghiệp tự phát để trồng cây công nghiệp ngắn ngày. Điển hình trong giai đoạn 2011 - 2015, toàn huyện đã xảy ra 13 vụ cháy rừng gây thiệt hại 45,15 ha rừng trồng và đỉnh điểm năm 2014 ghi nhận tới 378,93 ha đất rừng bị lấn chiếm trái phép.

Vấn đề đặt ra là sự mâu thuẫn gay gắt giữa bài toán mưu sinh của cộng đồng cư dân vùng cao và yêu cầu bảo tồn bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên trong bối cảnh lực lượng kiểm lâm còn mỏng. Mục tiêu của công trình nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện Bố Trạch giai đoạn 2010 - 2016, phân tích các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội chi phối, từ đó xác lập hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu lực quản trị rừng. Nghiên cứu tập trung tại 3 xã trọng điểm gồm Xuân Trạch, Hưng Trạch và Thượng Trạch. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc kiến tạo lộ trình giảm thiểu hơn 80% số vụ vi phạm lâm luật, xóa bỏ các điểm nóng phá rừng và chuẩn hóa năng lực cho 100% lực lượng bảo vệ rừng cơ sở tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết Quản lý rừng bền vững (Sustainable Forest Management - SFM), tích hợp hài hòa 3 trụ cột cơ bản: duy trì chức năng phòng hộ sinh thái, tối ưu hóa giá trị kinh tế lâm nghiệp và đảm bảo công bằng xã hội cho cộng đồng phụ thuộc vào rừng. Đồng thời, đề tài ứng dụng lý thuyết Lâm nghiệp xã hội kết hợp mô hình Quản lý rừng có sự tham gia của người dân (Participatory Forest Management - PFM/JFM), khẳng định quyền tiếp cận và hưởng lợi hợp pháp của người dân địa phương là động lực then chốt để bảo tồn tài nguyên. Khung phân tích SWOT (Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội, Thách thức) được sử dụng để định vị tương quan giữa năng lực nội tại của bộ máy quản lý và các tác động ngoại cảnh.

Các khái niệm chuyên ngành then chốt bao gồm: quản lý bảo vệ rừng (hệ thống biện pháp hành chính, kỹ thuật, pháp lý ngăn chặn xâm hại rừng), phòng cháy chữa cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ), lâm sản ngoài gỗ và trữ lượng rừng theo phân cấp giàu - trung bình - nghèo. Cơ sở pháp lý của đề tài gắn liền với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và địa phương như Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, Luật Đất đai năm 2013, Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg về Quy chế quản lý rừng, Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg về chính sách tăng cường bảo vệ rừng, Nghị định số 157/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp và Chỉ thị số 13/2006/CT-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình về phòng cháy chữa cháy rừng.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp phỏng vấn bán cấu trúc bảng hỏi. Tổng dung lượng mẫu điều tra gồm 113 hộ gia đình, được xác định thông qua công thức tính mẫu không lặp lại với sai số ngẫu nhiên d = 10% và độ tin cậy u = 1,96 (mức xác suất 95%). Cỡ mẫu được phân bổ chi tiết tại 4 địa bàn trọng điểm thuộc 3 xã: thôn Khe Gát (điều tra 38 hộ trên tổng số 65 hộ) và thôn Ngọn Rào (15 hộ trên tổng số 18 hộ) thuộc xã Xuân Trạch; thôn Bồng Lai (45 hộ trên tổng số 85 hộ) thuộc xã Hưng Trạch; bản Cồn Roàn (15 hộ trên tổng số 18 hộ) thuộc xã Thượng Trạch. Các hộ được chọn phân tầng đại diện đầy đủ 3 nhóm kinh tế: hộ khá, hộ trung bình và hộ nghèo dựa trên danh sách phân loại của chính quyền địa phương.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ các báo cáo tổng kết giai đoạn 2010 - 2015 của Hạt Kiểm lâm huyện Bố Trạch, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng hệ thống bản đồ kiểm kê đất đai. Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phỏng vấn sâu 113 hộ dân và cán bộ chuyên trách tại các trạm kiểm lâm. Lý do lựa chọn phần mềm thống kê SPSS kết hợp Microsoft Excel 2007 là nhằm định lượng hóa chính xác mức độ phụ thuộc sinh kế của người dân, xử lý các biến số thống kê mô tả về tình hình vi phạm lâm luật và kiểm định độ tương quan. Ma trận SWOT được lựa chọn vì tính bao quát, hỗ trợ kết nối trực tiếp các phát hiện thực địa với việc hoạch định chiến lược quản lý khả thi trong giai đoạn 2016 - 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về đặc điểm tài nguyên rừng, Bố Trạch có 143.366,84 ha rừng tự nhiên với tổng trữ lượng gỗ đạt 15.009.705 m3 (chiếm 95,3% tổng trữ lượng rừng toàn huyện), bình quân 105 m3/ha. Tuy nhiên, cơ cấu chất lượng rừng bộc lộ sự suy giảm đáng lo ngại khi rừng nghèo và rừng nghèo kiệt chiếm tới 23,3% diện tích (trong đó rừng nghèo chiếm 21,1%, nghèo kiệt chiếm 2,2%), rừng trung bình chiếm 73,1%, trong khi rừng giàu chỉ còn lại 3,6% tập trung chủ yếu ở phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Trữ lượng rừng trồng đạt 716.770 m3, chỉ chiếm 4,55% tổng trữ lượng.

Thứ hai, về công tác phòng cháy chữa cháy rừng, trong giai đoạn 2011 - 2015 đã ghi nhận 13 vụ cháy rừng gây thiệt hại 45,15 ha, tập trung vào rừng trồng thông nhựa dự án Việt Đức và dự án 661. Năm 2012 là thời điểm bùng phát dữ dội nhất với 4 vụ làm thiêu rụi 25,2 ha (chiếm 55,8% tổng diện tích cháy cả giai đoạn), riêng vụ cháy ngày 11/8/2012 tại Lâm trường Bồng Lai đã hủy hoại 15,5 ha. Toàn bộ 100% nguyên nhân cháy xuất phát từ việc người dân xử lý thực bì bất cẩn vào mùa nắng nóng từ tháng 5 đến tháng 8 kết hợp tác động tiêu cực của gió phơn Tây Nam khô nóng.

Thứ ba, về tình hình vi phạm lâm luật và lấn chiếm đất, số vụ vi phạm được phát hiện và xử lý có xu hướng giảm liên tục từ 62 vụ (năm 2012) xuống 46 vụ (năm 2013), 23 vụ (năm 2014) và chỉ còn 15 vụ (năm 2015), tương đương mức giảm 75,8%. Tổng tiền thu nộp ngân sách nhà nước từ tiền phạt và bán lâm sản tịch thu năm 2013 đạt mức cao nhất với 731,033 triệu đồng. Mặc dù số vụ khai thác, buôn bán gỗ lậu giảm, song nạn phá rừng lấn chiếm đất lâm nghiệp lại diễn biến hết sức phức tạp: năm 2011 xảy ra 3 vụ lấn chiếm 39,76 ha; năm 2013 có 4 vụ với 47,95 ha; đặc biệt năm 2014 bùng phát đột biến với 378,93 ha bị lấn chiếm, tiêu biểu là vụ xâm lấn 350 ha tại tiểu khu 243A xã Cự Nẫm do người dân ồ ạt phá rừng trồng keo làm giàu nhanh.

Thứ tư, về tổ chức bộ máy, toàn huyện có 1.310 tổ chức bảo vệ rừng với tổng số 7.879 người (cấp huyện 92 người, cấp xã 480 người, cấp thôn bản 7.307 người). Tuy nhiên, có tới 7.242 người (chiếm 91,9% tổng lực lượng) chưa qua bất kỳ khóa đào tạo chuyên môn nào. Lực lượng kiểm lâm địa bàn phụ trách 30 xã thị trấn chỉ có vỏn vẹn 30 biên chế chịu trách nhiệm quản lý hơn 143.366 ha rừng tự nhiên, thiếu hụt tới 113 cán bộ so với định mức tiêu chuẩn 1 kiểm lâm/1.000 ha rừng quy định tại Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg.

Thảo luận kết quả

Thực trạng suy giảm chất lượng rừng và làn sóng lấn chiếm đất lâm nghiệp bắt nguồn sâu xa từ áp lực kinh tế hộ gia đình. Giá trị thương phẩm từ gỗ nguyên liệu cây keo tăng cao trong những năm gần đây đã thúc đẩy người dân sống gần rừng chuyển đổi đất rừng tự nhiên và đất dự án trồng thông sang trồng keo tự phát. Các vụ vi phạm lâm luật thường diễn ra vào ban đêm với thủ đoạn tinh vi, lợi dụng mạng lưới giao thông thuận tiện của Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh để vận chuyển gỗ lậu về trung tâm thành phố Đồng Hới tiêu thụ. Hơn nữa, tập quán dựng nhà bằng gỗ truyền thống của đồng bào địa phương tiếp tục tạo sức ép khai thác lâm sản dai dẳng.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa mạch lạc thông qua bảng tổng hợp trữ lượng theo các trạng thái rừng và biểu đồ diễn biến số vụ vi phạm qua các năm. Biểu đồ đường thể hiện sự sụt giảm 75,8% số vụ bắt giữ lâm sản trái phép (giai đoạn 2012 - 2015), song biểu đồ hình cột lại phản ánh sự leo thang đột biến của diện tích đất bị lấn chiếm năm 2014 lên mức 378,93 ha. So sánh với các nghiên cứu lâm nghiệp cộng đồng tại khu vực miền Trung của các học giả chuyên ngành, kết quả tại Bố Trạch khẳng định việc thiếu hụt lực lượng kiểm lâm chuyên trách (chỉ đạt 21% định mức) kết hợp với 91,9% nhân sự cơ sở chưa qua đào tạo chính là mắt xích yếu nhất làm giảm hiệu lực răn đe của pháp luật.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, ngăn chặn triệt để hành vi phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp. Ủy ban nhân dân huyện Bố Trạch cùng Ủy ban nhân dân các xã cần tiến hành rà soát, cắm mốc ranh giới rõ ràng tại 100% các khu vực rừng giáp ranh nương rẫy, đặc biệt tại các xã điểm nóng như Cự Nẫm, Xuân Trạch và Hưng Trạch. Cơ quan chức năng phải xử lý dứt điểm 100% các vụ việc lấn chiếm đất tồn đọng từ năm 2014, thu hồi diện tích 350 ha tại tiểu khu 243A để phục hồi rừng tự nhiên. Kiểm lâm địa bàn phối hợp chặt chẽ với công an xã thực hiện nghiêm nguyên tắc bám dân, bám rừng, bám chính quyền, đặt mục tiêu không để phát sinh điểm nóng lấn chiếm mới trong giai đoạn 2017 - 2020.

Thứ hai, kiện toàn cơ cấu tổ chức và chuẩn hóa năng lực lực lượng quản lý bảo vệ rừng. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình cần tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh bổ sung tối thiểu 30 đến 50 biên chế kiểm lâm địa bàn trong giai đoạn 2017 - 2019 nhằm giảm tải áp lực quản lý. Hạt Kiểm lâm Bố Trạch chủ trì tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn nghiệp vụ lâm sinh, kỹ năng tuần tra và thực thi pháp luật cho ít nhất 85% trong tổng số 7.242 thành viên thuộc các tổ bảo vệ rừng thôn bản trước năm 2020.

Thứ ba, nâng cấp toàn diện hạ tầng kỹ thuật phòng cháy chữa cháy rừng. Hạt Kiểm lâm và các công ty lâm nghiệp trên địa bàn cần tu bổ, xây dựng mới tối thiểu 20 km đường băng cản lửa tại các khu vực rừng thông có nguy cơ cháy cao thuộc xã Thanh Trạch, Lâm Trạch; di dời và nâng cấp độ cao cho 3 chòi canh lửa tại trạm Troóc và trạm Khe Sến nhằm mở rộng tầm quan sát. Triển khai ký cam kết an toàn lửa rừng với 100% trong số 1.488 hộ dân ven rừng, kiểm soát nghiêm ngặt hoạt động dọn thực bì trong khung giờ cao điểm nắng nóng từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm, hướng tới mục tiêu giảm diện tích cháy rừng xuống dưới 2 ha/năm.

Thứ tư, triển khai đồng bộ các giải pháp sinh kế và kinh tế - xã hội. Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo đẩy mạnh công tác giao rừng, khoán bảo vệ rừng gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng, đảm bảo mức thu nhập của các hộ nhận khoán tăng trưởng từ 15% đến 20%/năm. Hỗ trợ kỹ thuật giúp người dân chuyển đổi từ mô hình độc canh cây keo sang các mô hình nông lâm kết hợp bền vững, phát triển trồng cây bản địa đa mục đích và khai thác lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng tự nhiên.

Thứ năm, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ và kiểm soát lâm sản. Hạt Kiểm lâm Bố Trạch cần đưa công nghệ thông tin địa lý (GIS) và ảnh viễn thám vào giám sát biến động tài nguyên rừng định kỳ hàng tháng; số hóa và giám sát chặt chẽ hồ sơ xuất nhập lâm sản của 43 cơ sở cưa xẻ gỗ và 25 cơ sở kinh doanh mộc trên toàn huyện, đảm bảo 100% khối lượng gỗ lưu thông có nguồn gốc hợp pháp trong giai đoạn 2018 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và lực lượng Kiểm lâm các cấp. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình, Hạt Kiểm lâm huyện Bố Trạch và các hạt kiểm lâm lân cận có thể sử dụng số liệu thực chứng của luận văn để hoạch định phương án phân bổ biên chế kiểm lâm địa bàn, xây dựng kế hoạch phòng chống cháy rừng theo mùa và ban hành quy chế phối hợp tuần tra truy quét liên vùng.

Thứ hai, Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia. Ban Quản lý Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng cùng các ban quản lý rừng phòng hộ có thể khai thác hệ thống dữ liệu về phân bố 143.366,84 ha rừng tự nhiên và các tọa độ xung yếu tại xã Xuân Trạch, Thượng Trạch để thiết lập vành đai bảo vệ nghiêm ngặt vùng đệm, ngăn ngừa các hành vi săn bắt động vật hoang dã và khai thác gỗ quý.

Thứ ba, giới nghiên cứu, giảng viên và sinh viên, học viên sau đại học. Các nhà khoa học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng, Kinh tế tài nguyên và Môi trường có thể kế thừa phương pháp chọn mẫu phân tầng 113 hộ, khung lý thuyết lâm nghiệp cộng đồng và công cụ ma trận SWOT để làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu liên quan.

Thứ tư, chính quyền địa phương cấp cơ sở và tổ chức cộng đồng thôn bản. Ủy ban nhân dân 30 xã, thị trấn cùng 1.277 tổ bảo vệ rừng và ban quản lý thôn bản trên địa bàn Bố Trạch có thể vận dụng các giải pháp xây dựng hương ước bảo vệ rừng, quy trình xử lý thực bì phòng ngừa cháy rừng và kinh nghiệm chuyển đổi mô hình sinh kế nông lâm kết hợp tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Nguyên nhân chính dẫn đến các vụ cháy rừng tại huyện Bố Trạch giai đoạn 2011 - 2015 là gì? Trả lời: Toàn bộ 13 vụ cháy rừng làm thiệt hại 45,15 ha trong giai đoạn 2011 - 2015 đều xuất phát từ sự bất cẩn hoặc cố ý của người dân khi đốt dọn thực bì không đúng quy trình kỹ thuật. Hoạt động này diễn ra vào thời điểm nắng nóng gay gắt từ tháng 5 đến tháng 8, kết hợp với gió phơn Tây Nam khô nóng có tốc độ lên đến 20 m/s khiến lửa lan nhanh không thể kiểm soát.

Câu hỏi 2: Tại sao diện tích đất lâm nghiệp bị phá và lấn chiếm lại bùng phát đột biến vào năm 2014? Trả lời: Năm 2014 ghi nhận diện tích đất lâm nghiệp bị phá và lấn chiếm lên tới 378,93 ha (tăng đột biến so với 39,76 ha năm 2011). Nguyên nhân do nhu cầu thị trường về gỗ keo nguyên liệu tăng vọt, kích thích người dân địa phương ồ ạt lấn chiếm đất rừng để trồng keo làm giàu nhanh, điển hình là vụ việc lấn chiếm công khai 350 ha tại tiểu khu 243A thuộc xã Cự Nẫm.

Câu hỏi 3: Lực lượng quản lý bảo vệ rừng tại Bố Trạch đang đối mặt với rào cản nhân sự lớn nhất nào? Trả lời: Thách thức lớn nhất là lực lượng quá mỏng và thiếu đào tạo chuyên môn. Trong tổng số 7.879 người tham gia bảo vệ rừng, có tới 7.242 người (chiếm 91,9%) chưa qua đào tạo. Toàn huyện chỉ có 30 kiểm lâm địa bàn phụ trách hơn 143.366 ha rừng, thiếu hụt tới 113 biên chế so với định mức quy chuẩn 1 kiểm lâm/1.000 ha theo Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg.

Câu hỏi 4: Hiệu quả của công tác kiểm tra, kiểm soát lâm sản tại địa phương biến động như thế nào qua các năm? Trả lời: Công tác kiểm soát lâm sản đạt nhiều chuyển biến tích cực khi số vụ vi phạm giảm liên tục từ 62 vụ (năm 2012) xuống 46 vụ (năm 2013), 23 vụ (năm 2014) và còn 15 vụ (năm 2015), tương ứng mức giảm 75,8%. Số tiền thu nộp ngân sách nhà nước từ tiền phạt và bán lâm sản tịch thu qua 4 năm đạt hơn 2,06 tỷ đồng, góp phần răn đe các đối tượng buôn lậu.

Câu hỏi 5: Luận văn đề xuất giải pháp cốt lõi nào nhằm giải quyết căn cơ mâu thuẫn giữa sinh kế và bảo vệ rừng? Trả lời: Giải pháp mấu chốt là đẩy mạnh giao khoán rừng gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng, nâng thu nhập hộ nhận khoán tăng 15% đến 20%/năm. Đồng thời, chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ độc canh cây keo sang phát triển lâm sản ngoài gỗ, cây dược liệu dưới tán rừng tự nhiên, tạo việc làm ổn định để người dân chủ động tham gia bảo vệ rừng bền vững.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng 171.349,96 ha đất lâm nghiệp và 143.366,84 ha rừng tự nhiên tại huyện Bố Trạch, chỉ ra tỷ lệ rừng nghèo và nghèo kiệt còn chiếm tới 23,3% tổng diện tích rừng gỗ.
  • Làm rõ nguyên nhân 13 vụ cháy rừng (thiệt hại 45,15 ha) và hiện tượng lấn chiếm đất lâm nghiệp bùng phát năm 2014 (378,93 ha), bắt nguồn từ áp lực sinh kế và phong trào trồng keo tự phát của cư dân vùng đệm.
  • Đánh giá sâu sắc điểm nghẽn về nhân sự khi có tới 91,9% lực lượng bảo vệ rừng cơ sở chưa qua đào tạo và biên chế kiểm lâm địa bàn thiếu hụt 113 người so với định mức nhà nước.
  • Xây dựng hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp chặt chẽ giữa biện pháp hành chính, hạ tầng kỹ thuật phòng cháy chữa cháy rừng, đào tạo nhân lực, ứng dụng công nghệ GIS và phát triển sinh kế lâm nghiệp cộng đồng.
  • Đóng góp luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc giúp chính quyền huyện Bố Trạch và tỉnh Quảng Bình nâng cao hiệu quả bảo vệ tài nguyên rừng giai đoạn 2017 - 2025.

Lộ trình triển khai khuyến nghị chia thành 3 giai đoạn: giai đoạn 2017 - 2018 ưu tiên xử lý dứt điểm các vụ lấn chiếm đất và cắm mốc ranh giới; giai đoạn 2018 - 2020 kiện toàn bộ máy, bồi dưỡng nghiệp vụ cho 85% nhân lực cơ sở và số hóa giám sát lâm sản; giai đoạn 2020 - 2025 nhân rộng các mô hình sinh kế nông lâm kết hợp bền vững. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và địa phương quan tâm đến quản trị tài nguyên rừng bền vững được khuyến khích tiếp cận, tham khảo toàn văn công trình để áp dụng hiệu quả vào thực tiễn quản lý lâm nghiệp tại cơ sở.