CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHTM VÀ HOẠT ĐỘNG NHẬN TIỀN GỬI CỦA NHTM 1.1 Tổng quan về NHTM 1.1 Khái niệm NHTM Theo Peter Rose (1999), “Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Theo qui định của Luật các TCTD năm 2010 thì “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” (theo khoản 3 Điều 4). So với các loại hình TCTD khác như TCTD phi ngân hàng, Tổ chức tài chính vi mô, Quỹ tín dụng nhân dân thì NHTM là loại hình TCTD được thực hiện đầy đủ nhất, rộng rãi nhất các hoạt động ngân hàng. Hoạt động ngân hàng theo qui định hiện hành là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi; cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản (theo khoản 12 điều 4 Luật các TCTD 2010).
Như vậy, NHTM là một loại hình doanh nghiệp với các chức năng chính là: (i) Nhận tiền gửi; (ii) Cấp tín dụng và (iii) Cung ứng dịch vụ thanh toán. Đây là các chức năng chính của một NHTM, và việc NHTM thực hiện các hoạt động khác ngoài các hoạt động này luôn không được khuyến khích, bởi việc đi lệch khỏi các nghiệp vụ chính luôn đi kèm với những rủi ro, tổn thất.2 Các loại hình NHTM của Việt Nam NHTM của Việt Nam chia thành hai nhóm gồm NHTMNN và NHTMCP. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 NHTM Nhà nước: là các NHTM được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ (theo khoản 2 Điều 6 Luật các TCTD 2010). Hiện nay, ở Việt Nam thực tế chỉ còn Agribank là NHTMNN, tuy nhiên do thói quen từ trước đến nay và thực tế Nhà nước vẫn nắm quyền chi phối nên các NHTMCP như BIDV, VCB, MHB hay Vietinbank vẫn được xem là NHTMNN1.
Ngoài trừ MHB thành lập năm 1995 thì các NHTMNN của Việt Nam được thành lập cách đây khá lâu, nhiều ngân hàng đã thành lập trên 50 năm. Trước đây, các NHTMNN có sự tách bạch trong ngành nghề hoạt động, chuyên phục vụ những đối tượng nhất định, điều này thể hiện rõ qua tên của các ngân hàng này. Tuy nhiên, hiện nay tất cả các ngân hàng này đều phục vụ đạ dạng các đối tượng khách hàng, thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo qui định của pháp luật. NHTM cổ phần: ngoài các NHTMNN ra thì theo qui định của Luật các TCTD 2010, các NHTM trong nước đều được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, gọi là các NHTMCP.
Hiện nay, theo website NHNN ngày 15/9/2013 thì Việt Nam có tổng cộng 34 NHTMCP, tuy nhiên theo đúng qui định của Luật các TCTD 2010 thì các Ngân hàng như VCB, Vietinbank, MHB và BIDV đều là các NHTMCP. Do đó, ở thời điểm hiện tại, Việt Nam có 37 NHTMCP theo luật định. Ngoài 3 ngân hàng gồm VCB, Vietinbank và BIDV, đa phần các NHTMCP khác đều có tuổi đời còn trẻ, được thành lập vào đầu thập niên 90 của thế kỷ 20. NHTMCP được thành lập đầu tiên tại Việt Nam là NHTMCP Sài Gòn Công thương (năm 1987).
Trong khi đó, các NHTMCP có uy tín tại Việt Nam hiện nay như ACB, STB, Techcombank… đều được thành lập từ những năm 1990 trở về sau.2 Hoạt động nhận tiền gửi của NHTM 1.1 Khái niệm nhận tiền gửi 1 Website NHNN vẫn liệt kê các NHTM như VCB, BIDV, Vietinbank và MHB là NHTMNN. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Khái niệm về NHTM đã chỉ rõ, nhận tiền gửi là một trong ba nghiệp vụ chính của NHTM, và khái niệm NHTM cho chúng ta thấy được phạm vi rất rộng của nghiệp vụ này. Theo qui định trước đây, cụ thể là trong Luật các TCTD 1997, nhận tiền gửi là một phần trong nghiệp vụ huy động vốn của NHTM. Nghiệp vụ huy động vốn của NHTM bao gồm các hình thức: (i) Nhận tiền gửi; (ii) Phát hành GTCG; (iii) Vay vốn giữa các TCTD; và (iv) Vay vốn của NHNN2.
Theo Peter Rose (1999), việc phát hành GTCG không được xem là hoạt động nhận tiền gửi tại Mỹ. Phát hành GTCG để huy động vốn cùng với các khoản vay từ NHTW, các khoản vay từ các NHTM khác… được xem là các khoản phi tiền gửi (Non deposit borrowings). Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam, khái niệm nghiệp vụ nhận tiền gửi của NHTM đã có sự thay đổi. Khái niệm nhận tiền gửi được định nghĩa một cách tổng quát trong Luật các TCTD 2010 tại khoản 13, điều 4 như sau: “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”.
Tiếp đó, tại điều 98 Luật các TCTD năm 2010 về hoạt động của NHTM, thì nhận tiền gửi bao gồm: (i) Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác; và (ii) Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài. Như vậy, khái niệm nhận tiền gửi bao gồm tất cả các hình thức nhận tiền của cá nhân và tổ chức, không chỉ theo cách hiểu của nhận tiền gửi trước đây mà còn cả việc phát hành GTCG. Hình thức của nhận tiền gửi hiện khá rộng, từ việc nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm cho đến việc phát hành GTCG để huy động vốn và các loại tiền gửi khác. 2 Mục 1 (Huy động vốn) từ điều 48 đến điều 48 Luật các TCTD 1997.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu này, do các hạn chế về thời gian, số liệu, năng lực nghiên cứu và nhiều yếu tố khác, tác giả giới hạn nghiệp vụ nhận tiền gửi chỉ bao gồm: nhận tiền gửi và phát hành GTCG để huy động vốn của cá nhân và TCKT (thường gọi là huy động vốn ở thị trường 1), mà không bao gồm nhận tiền gửi bằng vàng và các hình thức nhận tiền gửi khác.2 Các loại hình tiền gửi của NHTM 1.1 Tiền gửi không kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn gồm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi thanh toán. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút tiền mà không phải theo định kỳ nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Theo Nguyễn Minh Kiều (2012) thì sản phẩm này được thiết kế dành cho các đối tượng khách hàng cá nhân, có tiền tạm thời nhàn rỗi muốn gửi ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lợi nhưng không thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền gửi trong tương lai. Mục tiêu an toàn và tiện lợi được xem trọng hơn mục tiêu sinh lợi đối với khoản tiền gửi này.
Tổ chức nhận tiền gửi thường trả lãi rất thấp đối với loại tiền gửi này. Trong khi đó, tiền gửi thanh toán là tiền gửi vào tài khoản thanh toán do người sử dụng dịch vụ thanh toán mở tại các ngân hàng với mục đích gửi, giữ tiền hoặc thực hiện các giao dịch thanh toán qua ngân hàng bằng các phương tiện thanh toán (theo Quyết định 1284/2002/QĐ-NHNN về Qui chế mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại TCTD và NHNN). Số dư trên tài khoản thanh toán có thể hình thành từ hai nguồn: (i) khách hàng nộp tiền vào tài khoản và (ii) nhận tiền gửi thanh toán từ cá nhân, tổ chức chuyển tiền. Theo qui định hiện hành của các NHTM tại Việt Nam, tài khoản thanh toán này thường phải duy trì số dư tối thiểu theo qui định của từng ngân hàng.
Theo Peter Rose (1999) thì tiền gửi thanh toán là một trong những nguồn vốn biến động nhiều nhất và ngân hàng khó có thể dự báo về qui mô tiền gửi thanh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 toán có thể huy động. Đồng thời kỳ hạn tiềm năng của tiền gửi thanh toán là ngắn nhất bởi vì nó có thể được rút ra mà không cần báo trước.2 Tiền gửi có kỳ hạn Tiền gửi có kỳ hạn bao gồm tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn của cá nhân và tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức. Tiền gửi có kỳ hạn là tiền gửi của tổ chức mà đơn vị gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi.3 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thực chất là một phần của tiền gửi có kỳ hạn tại mục 1. Tuy nhiên, vì tính chất quan trọng của loại tiền gửi này nên đề tài tách thành một phần riêng để giải thích về mặt từ ngữ3.
Đây là khoản tiền của cá nhân gửi vào tài khoản gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ (sổ) tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy đinh của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Nguyễn Minh Kiều (2012) giải thích về loại tiền gửi này như sau: “tiền gửi tiết kiệm định kỳ [có kỳ hạn] được thiết kế dành cho khách hàng cá nhân có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn, sinh lợi và thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai. Lãi suất trả cho loại tiền gửi tiết kiệm định kỳ cao hơn so với lãi suất trả cho loại tiền gửi không kỳ hạn. Ngoài ra, lãi suất còn thay đổi tùy theo loại kỳ hạn gửi, tùy theo loại đồng tiền gửi tiết kiệm và tùy theo uy tín và rủi ro của ngân hàng nhận tiền gửi”.
Theo Peter Rose (1999), tài khoản tiền gửi tiết kiệm được lập ra để thu hút vốn của những người muốn dành riêng một khoản tiền cho những mục tiêu hay cho một nhu cầu về tài chính được dự tính trong tương lai. Lãi suất áp dụng cho loại tiền gửi 3 Khi phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn vẫn nằm trong tiền gửi có kỳ hạn nói chung. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 này cao hơn nhiều so với tiền gửi thanh toán.