Chương 1: Cơ sở lý luận hiệu quả sản xuất kinh doanh. Chương 2: Giới thiệu chung về Công ty cổ phần xi măng Ngũ Hành Sơn và Phân tích thực trạng tình hình tài chính qua các năm 2011, 2012, 2013. Đề nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công ty cổ phần xi măng Ngũ Hành Sơn. Tổng quan tài liệu nghiên cứu : Nghiên cứu về giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại một doanh nghiệp là một vấn đề không còn mới mẻ tại Việt Nam.
Trên thực tế đã có nhiều đề tài, luận văn nghiên cứu về vấn đề này, tác giả xin tham khảo. cụ thê như: - Luan van thạc sĩ Trần Thị Thu Hương “ Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẽ Việt nam trong hệ thống phân phối tại thị trường nội địa thời kỳ hậu WTO “ Hà Nội năm 2008. Luận văn tập trung phân tích những yếu tố tác động của môi trường ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và đề xuất một số giải pháp khắc phục. -_ Luận văn thạc sĩ Lê Quang Việt “ Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng von tai tong công ty công nghiệp xi măng Việt Nam” Hà Nội năm 2009.
Luận văn tập trung đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và tài sản có định tại tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam, dựa trên kết quả đánh giá đó tác giả đưa ra 8 mục tiêu, 5 biện pháp phát triển và đề xuất 4 giải pháp lớn trong đó có lồng ghép các giải pháp nhỏ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam. -_ Luận văn thạc sĩ Ngô Hữu Kiên “ Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần An Bình — Chi nhánh Bắc Ninh” Hà Nội năm 2013 - Luan van thạc sĩ Nguyễn Xuân Nhật “ Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cô phần Nam Á đến năm 2015” TP.Hồ 18 Chí Minh năm 2007. Tập hợp Tham khảo các tài liệu trên, tác giả đã trích lược, sàng lọc những kiến thức cơ bản để xây dựng phần lý luận về việc phân tích tài chính của hoạt động kinh doanh Công ty cô phần xi măng Ngũ Hành Sơn. Và cũng từ đây, tác giả đã nêu ra những phác thảo cơ bản về nội dung của việc đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
Tuy nhiên, tại Công ty cổ phần xi măng Ngũ Hành Sơn vẫn chưa có một công trình nào thực hiện. Do vậy, đây có. thể nói là đề tài đầu tiên nghiên cứu tương đối đầy đủ việc phân tích thực trạng tình hình tài chính tại Công ty và đề xuất một só giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong giai đoạn hiện nay. CƠ SỞ LÝ LUẬN HIEU QUA KINH DOANH CUA DOANH NGHIỆP TRONG NÈN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.
KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHÁT CỦA HIỆU QUẢ KINH DOANH 1. Khái niệm Có nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau về kinh doanh. Nếu loại bỏ các phần khác nhau về phương tiện, phương thức, kết quả cụ thể của hoạt động kinh doanh thì có thể hiểu: Kinh doanh là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của các chủ thể kinh doanh trên thị trường. Kinh doanh được phân biệt với các hoạt động khác bởi các hoạt động chủ yếu Sau: - Kinh doanh phải do một chủ thể thực hiện được gọi là chủ thể kinhdoanh.
Chủ thể kinh doanh có thể là các cá nhân, các hộ gia đình, các doanh nghiệp. - Kinh doanh phải gắn liền với thị trường. Thị trường và kinh doanh gắn liền với nhau như hình với bóng- không có thị trường thì không có hoạt động kinh doanh. - Kinh doanh phải gắn với sự vận động của đồng vốn.
Chu thé kinh doanh không chỉ có vốn mà còn cần phải biết cách thực hiện vận động đồng vốn đó không ngừng. Nếu gạt bỏ nguồn gốc bóc lột trong công thức tư bản của C. Mác, có thể xem công tức này là công thức kinh doanh: T - H - SX.- H” - T”: Chủ thể kinh doanh dùng vốn của mình dưới hình thức tiền tệ (T) mua những tư liệu sản xuất (H) để sản xuất ra những hàng hoá (H') theo nhu cầu của thị trường và đem những hàng hoá này đem bán cho khách hàng trên thị trường nhằm thu được số tiền lớn hơn (T). - Mục đích chủ yếu của kinh doanh là sịnh lời - lợi nhuận ( T”- T >0).
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh ở doanh nghiệp nhằm đạt kết quả cao nhất trong hoạt động kinh doanh với chỉ phí ít nhất. Nó không chỉ là thước đo trình độ tổ chức quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề hiệu quả kinh doanh. Điều này do điều kiện lịch sử và góc độ nghiên cứu khác nhau về vấn đề kinh doanh.
Nhà kinh tế học người Anh Adam smith cho rằng “hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá”, nhà kinh tế học Pháp 20 Ogiephri cũng quan niệm như vậy, ở đây hiệu quả được đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Rõ ràng quan niệm điểm này khó giải thích kết quả sản xuất kinh doanh có thể tăng do tăng chỉ phí mở rộng sử dụng các nguồn lực sản xuất. Nếu cùng một kết quả có hai mức chỉ phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng ta có cũng hiệu quả 1. Bản chất Ban chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh là chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu, thể hiện : Thứ nhất: Phải hiểu rằng hiệu quả kinh doanh thực chất là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và chỉ phí bỏ ra để sử dụng các yếu tố đầu vào và có tính đến các mục tiêu của doanh nghiệp.
Mối quan hệ so sánh ở đây có thể là so sánh tuyệt đối và cũng có thê là so sánh tương đối. Về mặt so sánh tuyệt đôi thì hiệu quả sản xuất kinh doanh là : Hiệu quả sản xuất kinh doanh = Kết quả đạt được tính ra tiền — Chi phi bo ra để sử dụng các nguồn lực đầu vào. Còn về so sánh tương đối thì : Kết quả đầu ra tính thành tiền Hiệu quả sản xuất kinh doanh = Chỉ phí các nguôn lực đâu vào Do đó để tính được hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ta phải tính kết quả đạt được và chỉ phí bỏ ra. Nếu xét mối quan hệ giữa kết quả và hiệu quả thì kết quả là cơ sở của hiệu quả sản xuất kinh doanh, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể là những đại lượng có khả năng cân, đo, đong, đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu bán hàng, lợi nhuận, thị phần.
Như vậy kết quả kinh doanh thường là mục tiêu của doanh nghiệp. Thứ hai là phân biệt hiệu quả xã hội với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp : Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu về xã hội nhất định. Các mục tiêu xã hội thường là : Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động trong phạm vi toàn xã hội hay phạm vi từng khu vực, nâng cao. trình độ văn hoá, nâng cao mức sông, đảm bảo vệ sinh môi trường.
21 Vi vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa với chỉ phí tối thiểu, hay là phải đạt kết quả tối đa với chỉ phí nhất định hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chỉ phí tối thiểu. Chỉ phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là chỉ phí tạo ra nguồn lực và chỉ phí sử dụng nguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội. Chi phi cơ hội là chi phí của sự lựa chọn tốt nhất đã bị bỏ qua, hay là chi phi của sự hy sinh công việc kinh doanh khác để thực hiện hoạt động kinh doanh này. Chỉ phí cơ hội phải được bỗ sung vào chỉ phí kế toán và phải loại ra khỏi lợi nhuận kế toán để thây rõ lợi ích kinh tế thực.
Cách tính như Vậy sẽkhuyến khích các nhà kinh doanh lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất, các mặt hàng sản xuất có hiệu quả hơn. PHAN LOẠI HIEU QUA KINH DOANH Trong công tác quản lý kinh doanh, phạm trù hiệu quả kinh doanh được biểu hiện ở những dạng khác nhau, mỗi dạng thể hiện những đặc trưng, ý nghĩa cụ thể của hiêu quả. Việc phân loại hiệu quả kinh doanh theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực cho công tác quản lý kinh doanh. Nó là cơ sở để xác định các chỉ tiêu và mức hiêu quả từ đó đề ra những biện pháp nâng cao hiêu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội của nền kinh tế quốc dân Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả kinh doanh thu được từ hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp. Biểu hiện chungcủa hiệu quả cá biệt là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt được. Hiệu quả kinh tế xã hội mà hoạt động kinh doanh đem lại cho nên kinh tế qốc dan là sự đóng góp của hoạt động kinh doanh vào việc phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tích lũy ngoại tệ, tăng thu cho ngân sách, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân. Trong quản lý kinh doanh không những cần tính toán và đạt được hiệu quả trong hoạt động của từng người, từng doanh nghiệp, mà còn phải tính toán và quan trọng hơn phải đạt được hiệu quả kinh tế xã hội đối với nền kinh tế quốc dân.
Giữa hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội có mối quan hệ nhân quả và 22 tác động qua lại với nhau. Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có thể đạt được trên sơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp. Tuy vậy, có thể có những doanh nghiệp không đảm bảo được hiệu quả (làm ăn thua lỗ) nhưng nên kinh tế vấn thu được hiêu qủa. Tuy nhiên tình hình thua lỗ của doanh nghiệp nào đó chỉ có thể chấp nhận được trong những thời điểm nhất định do những nguyên nhân khách quan mang lại.