CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ VỀ THOÁI VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT 1. Cơ sở lý luận về hoạt động thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp niêm yết 1. Khái niệm hoạt động thoái vốn nhà nước 1. Khái niệm Thoái vốn Thoái vốn được xem là hoạt động trái ngược với đầu tư.
Thoái vốn được hiểu là bán tài sản, bán một phần DN hoặc bán cả DN (Từ điển Tài chính, Cambridge). Cụ thể, thoái vốn (Divestment) là thuật ngữ chỉ quá trình bán các tài sản công ty con, rút các khoản đầu tư hoặc các chi nhánh nhằm tối đa hóa giá trị của công ty mẹ. Khi tài sản hoặc bộ phận công ty con hoạt động không như mong đợi, công ty mẹ sẽ thường triển khai hoạt động thoái vốn nhằm đáp ứng mục tiêu kinh doanh, tài chính, xã hội hoặc chiến lược chính trị khác. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, một công ty có thể bị buộc phải bán tài sản do yêu cầu về pháp lý hoặc quy định.
Hầu hết các quyết định thoái vốn là những nỗ lực có chủ đích nhằm tối đa hóa hiệu quả hoạt động của các DN, nhưng việc buộc phải bán tài sản lại có thể là kết quả của các hoạt động yêu cầu pháp lý như phá sản, giải thể. Tại một số quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc, thuật ngữ thoái vốn được sử dụng để chỉ hoạt động tư nhân hóa DN (Arun và Nixcon, 2000). Theo định nghĩa từ BSE (2017), thoái vốn có thể được định nghĩa là việc bán hoặc thanh lý cổ phần hoặc tài sản của DN thuộc sở hữu của Chính phủ, hoặc công ty con của DN đó. Khái niệm Thoái vốn nhà nước Thoái vốn nhà nước (state divestment) và cổ phần hóa (equitization) là hai thuật ngữ hay đi cùng với nhau nhằm chỉ hoạt động rút vốn đầu tư từ các DNNN của Chính phủ.
Cổ phần hóa còn được biết tới là hoạt động tư nhân hóa (privatization) tại một số quốc gia Châu Âu. Lịch sự hoạt động này bắt đầu vào những năm 1980 khi Thủ tướng của Anh – Thatcher thực hiện tư nhân hóa các DNNN trên quy mô toàn quốc (Loc và cộng sự, 2006). Tại Việt Nam, hoạt động tư nhân hóa thường được gọi là cổ phần hóa bắt đầu từ năm 1992, đây là một phần của chương trình tái cấu trúc các DNNN. Tại Việt Nam, cổ phần hóa DNNN là việc Nhà nước bán bớt một phần vốn của mình tại DN cho tư nhân mà có thể không bị mất quyền kiểm soát DN.
Chính phủ vẫn nắm giữ quyền biểu quyết nhất định, thêm vào đó, các nhà quản lý DN và người lao động cũng sẽ trở thành cổ đông của DN sau khi thực hiện cổ phần hóa. Tại Việt Nam, định nghĩa về thoái vốn chưa được quy định cụ thể trong văn bản luật có liên quan. Tuy nhiên, trong các Nghị định, Quyết định về việc tái cơ cấu DNNN, thoái vốn là thuật ngữ nhắc tới hoạt động bán vốn tiếp theo của nhà nước sau khi thực hiện cổ phần hóa. Tại nhiều DNNN sau khi thực hiện cổ phần hóa, tỷ lệ sở hữu của nhà 7 nước còn ở mức cao, một số ngành nghề không cần sự tham gia trực tiếp của nhà nước, hoạt động bán vốn các lần tiếp theo được diễn ra với tên gọi là thoái vốn nhà nước.
Như vậy, có thể hiểu thoái vốn nhà nước là hình thức mà nhà nước rút vốn đầu tư từ các DNNN thông qua việc thực hiện cổ phần hóa, thu hồi vốn bằng cách bán cổ phiếu trên sàn chứng khoán. Quyết định thoái vốn sẽ dẫn tới thay đổi cấu trúc sở hữu vốn trong DN. Về phía nhà nước, nguồn vốn sau khi được thu hồi sẽ tăng nguồn thu cho ngân sách. Bên cạnh đó, vốn thu hồi cũng được sử dụng nhằm mục đích tái đầu tư và tập trung vào các lĩnh vực kinh doanh có nhu cầu cao.
Thêm vào đó, thoái vốn sẽ giúp đa dạng hóa cổ đông, thu hút các cổ đông chiến lược có năng lực, giúp DN có thêm những cơ hội tiếp cận vốn, kỹ thuật, công khai minh bạch trong hoạt động quản trị DN. Phương thức thoái vốn nhà nước Thoái vốn và cổ phần hóa cũng có một số nét tương đồng về cách thức thực hiện – bán vốn nhà nước. Tuy nhiên, thời điểm, tỷ lệ bán vốn là khác nhau, do đó cũng sẽ gây ra những tác động không giống nhau tới DN và nền kinh tế. Hoạt động thoái vốn nhà nước sẽ có hai bên tham gia: người bán vốn (Nhà nước) và người nhận chuyển nhượng vốn (nhà đầu tư).
Đứng trên góc độ của người bán, để thực hiện thoái vốn được thành công cần đảm bảo hai vấn đề: giá chuyển nhượng và đối tượng chuyển nhượng. Thứ nhất, về giá chuyển nhượng, giá cần được xác định dựa trên nguyên tắc công bằng, đúng giá trị của DN nhưng cũng đảm bảo lợi ích cho hai bên. Việc xác định giá chuyển nhượng sẽ khó khăn, đặc biệt với những DNNN có quy mô tài sản lớn, nhiều loại tài sản khó xác định giá trị. Thứ hai, về đối tượng người mua, cần xác định số lượng nhà đầu tư tham gia mua, đặc điểm của nhà đầu tư có phù hợp với mục đích thoái vốn.
Phương thức thoái vốn nhà nước khác nhau sẽ xây dựng các mức giá chuyển nhượng khác nhau. Giá chuyển nhượng có thể được xác định thông qua đấu giá, khớp lệnh trực tiếp hoặc thông qua thỏa thuận. Chuyển nhượng cổ phiếu trên các SGDCK đối với công ty niêm yết Phương thức bán vốn thông qua chuyển nhượng cổ phiếu trên các SGDCK được áp dụng đối với các DNNN đã cổ phần hóa và niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên TTCK. Mức giá giao dịch sẽ được xác định thông qua phương thức báo giá (khớp lệnh) trên thị trường.
Nói cách khác, giá sẽ được xác định dựa trên cung cầu của cổ phiếu. Với phương thức này, người bán có thể chủ động lựa chọn thời điểm bán cổ phiếu khi giá thị trường đạt mức kỳ vọng. Tuy nhiên, phương thức bán này yêu cầu các công ty niêm yết phải tuân thủ các quy định về giao dịch tại các SGDCK như khối lượng đặt lệnh theo lô giao dịch, công khai thông tin khi chào bán. Thêm vào đó, bán cổ phiếu qua giao dịch báo giá trên các SGDCK có một số vấn đề cần lưu ý: Nếu cổ phiếu không có tính thanh 8 khoản, hoạt động thoái vốn sẽ gặp rủi ro về thời gian và khối lượng bán do phải đảm bảo quy định của thị trường; không xác định được đối tượng nhà đầu tư mua bán là cá nhân hay tổ chức; Tổ chức phát hành cũng không thể đánh giá được nhu cầu của thị trường với lượng cổ phiếu của mình dẫn đến rủi ro không bán hết số vốn cần bán theo kế hoạch.
Đấu giá công khai đối với vốn tại các công ty cổ phần chưa niêm yết Đấu giá là cách thức xác định giá dựa trên cơ sở cạnh tranh giá mua giữa các nhà đầu tư. Theo phương pháp này, giá mua bán phần vốn được chuyển nhượng sẽ xác định trên cơ sở giá khởi điểm của bên bán vốn, bên mua sẽ thực hiện trả giá thông qua việc đặt mua trên phiếu đấu thầu. Nguyên tắc đấu giá sẽ ưu tiên cho nhà đầu tư trả mức giá cao nhất cho lượng phần vốn đăng ký mua. Đấu giá công khai gồm đấu giá thông thường và đấu giá theo lô.
Theo đó, đấu giá thông thường không có quy định hạn chế số lượng cổ phần đặt mua đối với mỗi nhà đầu tư tham gia đấu thầu. Đấu giá theo lô là hình thức đấu giá trong đó đơn vị về số lượng cổ phiếu đặt thầu được tính theo lô, nhà đầu tư phải đặt thầu, hay nói cách khác, đặt mua với khối lượng tối thiểu từ một lô. Số lượng cổ phần theo lô sẽ do tổ chức bán cổ phần quyết định. Phương pháp này có ưu điểm là đảm bảo tính công khai, minh bạch, đảm bảo quyền tham gia của các nhà đầu tư trên thị trường.
Việc tổ chức đấu giá công khai sẽ giúp cho bên bán vốn tối đa hóa được lợi ích trên cơ sở nhiều nhà đầu tư tham gia mua với nhiều mức giá khác nhau (cao hơn hoặc bằng giá khởi điểm). Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là bên bán vốn sẽ không đánh giá chính xác được nhu cầu của thị trường, chưa thể đánh giá được hết tiềm năng của người mua. Một số vấn đề còn tồn tại đối với phương pháp đấu giá công khai như: xác định mức giá khởi điểm, công bố thông tin về đấu giá có thể chưa minh bạch dẫn tới việc bất cân xứng thông tin. Một hình thức khác của đấu giá là chào bán cạnh tranh không thông qua đấu giá.
Đây là phương thức bán cổ phần công khai cho các nhà đầu tư có sự cạnh tranh về giá. Về mặt hình thức, chào bán cạnh tranh có sự tương đồng với đấu giá công khai. DN sẽ công bố thông tin về đợt chào bán cổ phần rộng rãi tới các nhà đầu tư và nhận đơn đặt mua với một mức giá nhất định. Số lượng đặt mua có thể tùy thuộc vào quy định của tổ chức phát hành (đấu giá thông thường hoặc đấu giá theo lô).
Thực hiện chuyển nhượng vốn qua thỏa thuận Chuyển nhượng vốn nhà nước thông qua hình thức thỏa thuận theo hợp đồng giữa bên mua và bên bán. Giá chuyển nhượng trong trường hợp này được hình thành bởi sự thoải thuận của hai bên. Trong một số trường hợp, người bán có thể yêu cầu bên mua thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết nhằm duy trì hoạt động và phát triển của DN. Bởi vậy, việc lựa chọn nhà đầu tư (người mua phần vốn) được xem là ưu điểm của 9 phương pháp này để giúp tìm kiếm và lựa chọn được nhà đầu tư phù hợp với DN.
Nhược điểm của phương pháp này là giá mua bán vốn sẽ không được thực hiện theo cơ chế thị trường, có thể tạo ra sự bất bình đẳng giữa các nhà đầu tư. Do đó, phương pháp này chỉ phù hợp trong trường hợp thoái vốn theo quy mô nhỏ, số lượng vốn bán ít hoặc DN có quy mô nhỏ khi muốn tìm đối tác để thoái vốn. Phương thức dựng sổ (book-building) Phương thức dựng sổ là một phương thức bán cổ phần được sử dụng chủ yếu trong các đợt phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng (IPO). Theo đó, để có cơ sở xác định giá bán cổ phần của mình, DN có thể đưa ra một khoảng giá bán xác định.
Việc xác định khoảng giá bán này được thực hiện thông qua phương pháp dựng sổ.