Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh: 1. Khái niệm: Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẳn có của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong kinh doanh với chi phí thấp nhất. Như vậy hiệu quả kinh doanh khác với kết quả kinh doanh và có mối quan hệ chặt chẽ với kết quả kinh doanh (Nguyễn Văn Công, 2009).
Kết quả là số tuyệt đối phản ánh quy mô đầu ra của hoạt động sản xuất kinh doanh như lợi nhuận, tổng doanh thu, tổng sản phẩm làm ra, hay giá trị sản xuất. Hiệu quả là số tương đối phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được kết quả cao nhất với chi phí cho nguồn lực là thấp nhất. Về bản chất, hiệu quả và kết quả khác nhau ở chỗ: kết quả phản ánh mức độ, quy mô, là cái mà doanh nghiệp đạt được sau mỗi kỳ kinh doanh, có kết quả mới tính được hiệu quả, đó là sự so sánh giữa kết quả là khoản thu về so với khoản bỏ ra là chính các nguồn lực đầu vào. Như vậy, dùng kết quả để tính hiệu quả kinh doanh cho từng kỳ.
Hiệu quả và kết quả có mối quan hệ mật thiết với nhau nhưng lại có khái niệm khác nhau. Có thể nói, kết quả là mục tiêu của quá trình sản xuất kinh doanh, còn hiệu quả là phương tiện để đạt được mục tiêu đó. Bất kỳ hoạt động nào của con người, trong đó có hoạt động kinh doanh, đều mong muốn đạt kết quả cụ thể hữu ích nào đó. Tuy nhiên, cần xem xét kết quả đó được tạo ra với giá nào vì nó phản ánh chất lượng của hoạt động tạo ra kết quả.
Người ta quan tâm tới việc làm sao để có thể làm ra được nhiều sản phẩm nhất với nguồn lực hiện có. Từ đó nảy sinh vấn đề phải lựa chọn cách nào để đạt kết quả lớn nhất. Vì thế, khi đánh giá hoạt động kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả, mà còn phải đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh để tạo ra kết quả đó. 123doc 7 Khi xem xét hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, người phân tích cần xem xét một cách toàn diện cả về mặt thời gian và không gian trong mối quan hệ với hiệu quả chung của toàn bộ nền kinh tế.
Về mặt thời gian, hiệu quả mà doanh nghiệp đạt được trong từng giai đoạn, từng thời kỳ kinh doanh không được làm giảm sút hiệu quả của các giai đoạn, các thời kỳ kinh doanh tiếp theo. Điều này có nghĩa là bản thân doanh nghiệp không thể vì lợi ích trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài. Doanh nghiệp không thể coi việc giảm chi phí để tăng thu nhập là có hiệu quả được, khi việc giảm chi được tiến hành tùy tiện, thiếu cân nhắc như không xét đến chi phí cải tạo môi trường tự nhiên, đảm bảo cân bằng sinh thái, nâng cao trình độ người lao động, … Về mặt không gian, hiệu quả kinh doanh chỉ có thể coi là toàn diện khi toàn bộ hoạt động của các bộ phận mang lại hiệu quả không làm ảnh hưởng đến hiệu quả chung của doanh nghiệp. Mỗi hiệu quả đạt được từ một giải pháp kinh tế hay một hoạt động nào đó trong từng bộ phận, không được làm tổn hại đến hiệu quả chung cả trong hiện lại và tương lai thì mới được coi là có hiệu quả thật sự, mới trở thành mục tiêu phấn đấu và tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh không những là thước đo chất lượng phản ánh trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì trước hết là kinh doanh phải có hiệu quả. Hiệu quả càng cao thì doanh nghiệp càng có điều kiện để đầu tư, mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện hiện đại cho kinh doanh, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới, cải thiện và nâng cao đời sống người lao động, thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước. Ý nghĩa việc phân tích hiệu quả kinh doanh: Muốn nâng cao hiệu quả kinh doanh, điều cần thiết là phải biết hiệu quả kinh doanh hiện tại như thế nào, để từ đó tìm ra các nguyên nhân của các điểm đạt được, hay nguyên nhân của vấn đề chưa được để rút ra bài học cho các kỳ sau.
Vì vậy sau mỗi giai đoạn, doanh nghiệp cần tiến hành phân tích để biết được hiệu quả đạt được 123doc 8 là cao hay thấp, trên cơ sở các chỉ tiêu đã định trước phù hợp với yêu cầu và nội dung phân tích. Việc phân tích kinh doanh sẽ cung cấp cho nhà quản trị những thông tin chính xác, trung thực về chất lượng kinh doanh của doanh nghiệp, trên cơ sở đó có những giải pháp hay định hướng cho các kỳ kinh doanh sau để đạt hiệu quả cao hơn. Việc phân tích phải được tiến hành toàn diện, đầy đủ, tổng hợp toàn bộ các mặt có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp để phát hiện các nhân tố có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực trong kinh doanh, để nhà quản trị đề ra các quyết định và phương án kinh doanh phù hợp, theo hướng tối ưu hóa các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt hiệu quả cao. Việc phân tích kinh doanh giúp doanh nghiệp có thể chủ động tránh các rủi ro tiềm ẩn, tránh lập lại những sai sót trong các giai đoạn trước, hoặc có thể tận dụng được những nguồn lực mà doanh nghiệp chưa sử dụng hết, để đạt hiệu quả tốt hơn.
Nội dung phân tích hiệu quả kinh doanh: Khi phân tích hiệu quả kinh doanh, các nhà phân tích có thể tiếp cận theo nhiều cách khác nhau, trong đó chú trọng vào các nội dung chủ yếu như: Đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh: Đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh nhằm nêu lên những nhận xét, đánh giá ban đầu về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Qua đó, giúp các nhà quản lý có căn cứ để đề ra các quyết định cần thiết về đầu tư, mua bán, … Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản: Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chỉ có thể đạt được khi tài sản của doanh nghiệp được sử dụng một cách có hiệu quả. Vì thế, phân tích hiệu quả sử dụng tài sản sẽ giúp cho nhà quản trị biết một đơn vị giá trị tài sản sẽ đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận, hay để tạo ra một đơn vị lợi nhuận thì doanh nghiệp cần hao phí bao nhiêu đơn vị giá trị tài sản để sử dụng vào kinh doanh. 123doc 9 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu là bộ phận nguồn vốn quan trọng để hình thành nên tài sản của doanh nghiệp.
Hoạt động kinh doanh suy cho cùng cũng nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của chủ sở hữu. Vì vậy, phân tích hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu sẽ giúp các nhà quản lý biết được tình hình sử dụng vốn chủ sở hữu theo thời gian, biết được sức sản xuất, suất sinh lợi và mức hao phí vốn chủ sở hữu để có được một đơn vị kết quả kinh doanh. Ngoài ra, tùy theo mục đích sử dụng thông tin, nhà phân tích có thể tiến hành phân tích các nội dung khác như hiệu quả sử dụng chi phí, hiệu quả sử dụng lao động,…(Nguyễn Văn Công, 2009). Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh: 1.
Chỉ tiêu về kết quả kinh doanh: ● Tình hình thực hiện chỉ tiêu kinh doanh: Tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh doanh phản ánh mức độ mà doanh nghiệp thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch được giao, hay các chỉ tiêu đề ra như thế nào. Việc đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh doanh cũng cho thấy khả năng lãnh đạo và quản trị chiến lược của doanh nghiệp. ● Doanh thu hoạt động kinh doanh: Doanh thu là biểu hiện bằng tiền của khối lượng hàng hóa tiêu thụ hay dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Doanh thu là kết quả của quá trình chuyển sản phẩm hàng hóa từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị, và kết thúc một vòng luân chuyển vốn.
Phải đạt được doanh thu thì doanh nghiệp mới có thể tiến hành tái sản xuất, mở rộng đầu tư, tăng tốc độ luân chuyển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Với giá trị doanh thu đạt được, doanh nghiệp thu hồi được các chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh, và thu được giá trị thặng dư biểu hiện bằng lợi nhuận. Đây là nguồn thu quan trọng để doanh nghiệp thực hiện đầu tư mở rộng quy 123doc 10 mô, nâng cao đời sống người lao động; đồng thời cũng góp phần cho ngân sách quốc gia. Công thức tính: Doanh thu = Khối lượng hàng hóa tiêu thụ * Giá bán ● Lợi nhuận hoạt động kinh doanh: Lợi nhuận là biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm thặng dư do kết quả lao động của công nhân mang lại trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh. Nó phản ánh các mặt chất lượng và số lượng của doanh nghiệp, phản ánh kết quả sử dụng các yếu tố lao động, vật tư, tài sản cố định,…(Phạm Văn Dược và cộng sự, 2013). Để thực hiện tốt việc phân tích lợi nhuận, cần hiểu rõ nội dung của từng bộ phận hình thành lợi nhuận. Xét theo nguồn hình thành, lợi nhuận bao gồm các khoản sau: • Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh: Là lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh thuần về hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp, là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo.
Chỉ tiêu này được tính toán trên cơ sở lợi nhuận gộp trừ đi tổng chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp của hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ trong kỳ. • Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: Phản ánh hiệu quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy thu nhập hoạt động tài chính trừ đi các chi phí phát sinh từ hoạt động này. • Lợi nhuận khác: Là những khoản doanh nghiệp không dự tính trước, trong thực tế thường ít có khả năng xảy ra.
Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy thu nhập khác trừ đi khoản chi phí khác. Chi phí khác này không liên quan đến hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính của doanh nghiệp.