phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn đƣợc cấu trúc thành 03 chƣơng: - Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm soát chi vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản. 3 - Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát chi vốn đầu tƣ XDCB tại Ban Quản lý dự án Đầu tƣ Xây dựng khu vực thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng. - Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát nội bộ trong chi vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản tại Ban Quản lý dự án Đầu tƣ Xây dựng khu vực thị xã Tân Uyên - tỉnh Bình Dƣơng. 4 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ KIỂM SOÁT CHI VỐN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN 1.1 Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công 1.1 Lịch sử ra đời và phát triển lý thuyết kiểm soát nội bộ 1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của lý thuyết kiểm soát nội bộ Kiểm soát nội bộ đã tồn tại từ thời cổ đại.
Khi Hy Lạp có chính quyền kép, với việc phân chia trách nhiệm thu thuế và giám sát việc thu thuế. Đến những năm đầu thế kỉ 20 khi nền kinh tế bắt đầu phát triển mạnh mẽ, các kênh cung cấp vốn cũng phát triển kịp thời để đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô của doanh nghiệp. Từ đó đƣa đến nhu cầu tăng cƣờng quản lý vốn và kiểm tra thông tin về sử dụng vốn. Thuật ngữ “kiểm soát nội bộ” bắt đầu xuất hiện từ giai đoạn này.
Hình thức ban đầu của kiểm soát nội bộ là kiểm soát tiềnvà kiểm tra thông tin về việc sử dụng vốn. Năm 1905, Robert Montgomery, đƣa ra ý kiến về một số vấn đề liên quan đến KSNB trong tác phẩm lý thuyết và thực hành kiểm toán. Mặt dù ý kiến này không phải là nguyên tắc chi phối cuộc kiểm toán mà là cơ sở về các thủ tục mà kiểm toán viên cần thực hiện. Năm 1929, thuật ngữ KSNB chính thức đƣợc đề cập trong một công bố của Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ.
Theo đó, KSNB đƣợc định nghĩa là một công cụ bảo vệ tiền và các tài sản khác, đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động, và đây là một cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử nghiệm của kiểm toán viên. Đến năm 1936, khái niệm kiểm soát nội bộ đã đƣợc mở rộng hơn trong một công bố của Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA): kiểm soát nội bộ là các biện pháp và cách thức đƣợc chấp nhận và đƣợc thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và tài sản khác, cũng nhƣ kiểm tra sự chính xác trong ghi chép sổ sách. Theo thời gian việc nghiên cứu và đánh giá về kiểm soát nội bộ ngày càng đƣợc chú trọng. Năm 1949, AICPA công bố công trình nghiên cứu “kiểm soát nội bộ, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh 5 nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập”.
Trong công trình nghiên cứu này, AICPA đã mở rộng kiểm soát nội bộ là “cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan đƣợc chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của nhà quản lý.” Năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP) trực thuộc AICPA ban hành báo cáo về thủ tục kiểm toán số 29: “Phạm vi xem xét kiểm soát nội bộ của kiểm toán viên độc lập”. Đến năm 1973, AICPA ban hành chuẩn mực kế toán 1 đã đƣa ra các định nghĩa về kiểm soát quản lý và kiểm soát kế toán. Sau rất nhiều vụ gian lận gây tổn thất cho nền kinh tế, ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ đƣa ra đòi hỏi bắt buộc các đơn vị phải báo cáo về kiểm soát nội bộ đối với công tác kế toán ở đơn vị mình cho công chúng. Theo đó, cần phải có những tiêu chuẩn đánh giá tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ.
Năm 1985, ủy ban COSO thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận trên các báo cáo tài chính đƣợc thành lập dƣới sự bảo trợ của 5 tổ chức nghề nghiệp bao gồm Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ, Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ, Hiệp hội các nhà quản trị tài chính, Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ, Hiệp hội kế toán viên quản trị. Năm 1992, COSO phát hành báo cáo. Đây là tài liệu đầu tiên trên thế giới đƣa ra khuôn mẫu về lý thuyết kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có hệ thống, với năm bộ phận của kiểm soát nội bộ bao gồm môi trƣờng kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Báo cáo Coso năm 1992 đã là tiền đề cho hàng loạt các nghiên cứu phát triển về kiểm soát nội bộ ở nhiều lĩnh vực ra đời sau này… 1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của lý thuyết kiểm soát nội bộ ở khu vực công Đối với bất kỳ tổ chức nào, dƣới góc nhìn của nhà quản lý cũng cần có hai hệ thống chạy song hành.
Thứ nhất đó là hệ thống đáp ứng yêu cầu kinh doanh bao gồm các phòng ban chức năng, các quy trình thủ tục, các công việc cần thiết để phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của tổ chức. Tuy nhiên, bất kỳ công việc nào, 6 quy trình nào thực hiện ở trên cũng đều đối diện với những nguy cơ hay rủi ro tác động làm ảnh hƣởng đến khả năng hoàn thành mục tiêu của công việc thậm chí tuỳ theo mức độ, gây ảnh hƣởng từ thiệt hại ở mức chấp nhận đƣợc đến nguy cơ phá sản của tổ chức. Nhằm giảm thiểu rủi ro cho tổ chức ở ngƣỡng chấp nhận đƣợc, hệ thống thứ hai kiểm soát nội bộ đƣợc thiết lập trên cơ sở các biện pháp, chính sách, thủ tục, chức năng, thẩm quyền của những ngƣời liên quan và trở thành phƣơng tiện quan trọng trong hoạt động của mọi cơ quan tổ chức, giúp các cơ quan tổ chức nâng cao năng lực, cải tiến hiệu quả hoạt động, hạn chế các sự cố, rủi ro và hoàn thành các mục tiêu của tổ chức. Trong lĩnh vực công, KSNB cũng đƣợc Chính phủ các quốc gia đặc biệt quan tâm.
Một số quốc gia nhƣ Mỹ và Canada đã phát triển và công bố các hƣớng dẫn về KSNB áp dụng cho các đơn vị công. Năm 1999, cơ quan kiểm toán Nhà nƣớc Hoa Kỳ (GAO) đã ban hành chuẩn mực về kiểm soát nội bộ trong chính quyền liên bang, nhằm đƣa ra các quan điểm và hƣớng dẫn về KSNB đặc thù trong các đơn vị thuộc khu vực công. Năm 1996, Kiểm toán Nhà nƣớc Việt Nam là thành viên chính thức của tổ chức INTOSAI. Đến năm 1997, Việt Nam tham gia tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao Châu Á (ASOSAI).
ASOSAI thành lập năm 1979, hiện nay có 45 thành viên. Từ tháng 10/2009, Việt Nam là thành viên Ban điều hành tổ chức này nhiệm kỳ 2009 –2012. Năm 2001, bản hƣớng dẫn của INTOSAI 1992 đã cập nhật thêm về các chuẩn mực kiểm soát nội bộ để phù hợp với tất cả đối tƣợng và phù hợp với sự phát triển gần đây trong kiểm soát nội bộ, và công bố năm 2004. INTOSAI đƣa ra 2 nhóm chuẩn mực về KSNB: chuẩn mực chung và chuẩn mực cụ thể.
Chuẩn mực chung bao gồm các quy định về đảm bảo hợp lý, tinh thần tuân thủ, năng lực và phẩm chất, mục tiêu kiểm soát và giám sát. Chuẩn mực cụ thể đi vào các quy định về tổ chức hồ sơ, tài liệu, ghi chép kịp thời và đúng đắn các nghiệp vụ, phân chia trách nhiệm, tiếp cận và báo cáo về nhân lực và sổ sách.2 Khái niệm và mục tiêu của kiểm soát nội bộ 1.1 Theo COSO 1992 KSNB là một quá trình bị chi phối bởi ngƣời quản lý, hội đồng quản trị, các nhân viên của đơn vị, đƣợc thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện 3 mục tiêu: Báo cáo tài chính đáng tin cậy, các luật lệ và quy định đƣợc tuân thủ, hoạt động hữu hiệu và hiệu quả. Trong định nghĩa trên, có bốn khái niệm quan trọng cần lƣu ý, đó là: quá trình, con ngƣời, đảm bảo hợp lý và mục tiêu. Kiểm soát nội bộ là một quá trình: điều đó có nghĩa là kiểm soát nội bộ không phải là một sự kiện hay tình huống mà là một chuỗi các hoạt động hiện diện rộng khắp trong doanh nghiệp.
Kiểm soát nội bộ phải là một bộ phận giúp doanh nghiệp đạt đƣợc mục tiêu của mình. Kiểm soát nội bộ bị chi phối bởi con ngƣời trong đơn vị: Con ngƣời đặt ra mục tiêu và đƣa cơ chế kiểm soát vào vận hành hƣớng tới các mục tiêu đã định. Ngƣợc lại, kiểm soát nội bộ cũng tác động đến hành vi của con ngƣời. Mỗi cá nhân có một khả năng, suy nghĩ và ƣu tiên khác nhau khi làm việc và họ không phải luôn luôn hiểu rõ nhiệm vụ của mình cũng nhƣ trao đổi và hành động một cách nhất quán.
Kiểm soát nội bộ sẽ tạo ra ý thức kiểm soát ở mỗi cá nhân và hƣớng các hoạt động của họ đến mục tiêu chung của tổ chức. Đảm bảo hợp lý: kiểm soát nội bộ chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý cho ban giám đốc và nhà quản lý việc đạt đƣợc các mục tiêu của đơn vị. Điều này là do những hạn chế tiềm tàng trong hệ thống kiểm soát nội bộ nhƣ: sai lầm của con ngƣời, sự thông đồng của các cá nhân, sự lạm quyền của nhà quản lý và do mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí của việc thiết lập nên hệ thống kiểm soát nội bộ. Các mục tiêu: mỗi đơn vị phải đặt ra mục tiêu mà mình cần đạt tới, có thể chia các mục tiêu thành 3 nhóm sau đây: - Nhóm mục tiêu về hoạt động: nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực.
8 - Nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính: đơn vị phải đảm bảo tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà mình cung cấp. - Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: đơn vị phải tuân thủ các luật lệ và quy định.2 Theo INTOSAI 1992 Theo tài liệu hƣớng dẫn của INTOSAI (1992) khái niệm KSNB đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “KSNB là cơ cấu của một tổ chức, bao gồm nhận thức, phƣơng pháp, quy trình và các biện pháp của ngƣời lãnh đạo nhằm bảo đảm sự hợp lý để đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức”.