CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.1 Những vấn đề chung về huy động vốn tiền gửi của ngân hàng thương mại: 1.1 Khái niệm: Tiền gửi là tiền mà các doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng thương mại nhằm mục đích phục vụ các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, tiết kiệm và một số mục đích khác. Đây là bộ phận chủ yếu trong cơ cấu tài sản nợ của các Ngân hàng Thương mại. Huy động vốn tiền gửi là đặc trưng cơ bản trong kinh doanh của các ngân hàng vì trong tổng nguồn vốn kinh doanh của một NHTM thì qui mô của nguồn vốn từ tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác, thông thường chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của ngân hàng.2 Phương thức huy động vốn tiền gửi của ngân hàng thương mại: 1.1 Tiền gửi không kỳ hạn (thường là tài khoản tiền gửi thanh toán): Tiền gửi thanh toán là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng để thực hiện các giao dịch thanh toán.
Khách hàng ở đây có thể là các cá nhân, doanh nghiệp, các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác, chính quyền trung ương và địa phương. Loại tiền gửi này có thể rút ra bất cứ lúc nào khi khách hàng có yêu cầu mà không cần phải báo trước về thời hạn và khối lượng, do đó chúng có tính ổn định thấp và do đó lãi suất áp dụng đối với loại tiền gửi này thường không cao.2 Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền được gửi vào ngân hàng trên cơ sở có sự thoả thuận về thời gian rút tiền giữa khách hàng (đối với khách hàng là tổ chức, hộ kinh doanh có mở tài khoản giao dịch tại ngân hàng) và ngân hàng nên khách hàng chỉ được rút ra khi đến hạn đã thoả thuận. Đại bộ phận nguồn tiền gửi này có nguồn gốc từ tích luỹ và xét về bản chất chúng được gửi tại ngân hàng như một khoản đầu tư nhằm mục đích hưởng lãi. Do đó, khác với tiền gửi không kỳ hạn thì yếu tố lãi suất có tác động rất lớn đến nguồn vốn này.
Về cơ bản, các khoản tiền có kỳ hạn không được sử dụng để tiến hành thanh toán như các tài khoản chi trả bằng vốn trên tài khoản vãng lai hay tài khoản giao dịch. Thông thường, tiền gửi có kỳ hạn là các khoản tiền gửi có thời hạn dài và có lãi suất cao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Tiền gửi có kỳ hạn giữ vai trò trung gian giữa tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm. Đây là nguồn tiền tương đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng phần lớn tồn khoản vào kinh doanh.
Để tăng cường khả năng huy động nguồn này, trước hết các Ngân hàng Thương mại thường áp dụng nhiều kỳ hạn khác nhau nhằm đáp ứng được mọi nhu cầu của các loại khách hàng khác nhau. Mỗi kỳ hạn ngân hàng thường áp dụng một mức lãi suất tương ứng, với nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao.3 Tiền gửi tiết kiệm: Ở các nước phát triển, trong các loại tiền gửi vào ngân hàng thì tiền gửi tiết kiệm đứng ở vị trí thứ hai về mặt số lượng. Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền tích luỹ nhàn rỗi của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm hưởng lãi theo kỳ hạn nhất định. Tiền gửi tiết kiệm thông thường gồm có: tiết kiệm không kỳ hạn và tiết kiệm có kỳ hạn.
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào nhưng mức lãi suất dành cho loại hình tiền gửi tiết kiệm này rất thấp. Hiện nay, để linh hoạt và thu hút nguồn vốn này nhiều ngân hàng vẫn cho khách hàng sử dụng loại tiền gửi tiết kiệm này như một tài khoản tiền gửi thanh toán thông thường. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là khoản tiền có sự thoả thuận về thời hạn gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Tuy nhiên về bản chất thì đây cũng là một hình thức vay của ngân hàng đối với khách hàng nên ngân hàng vẫn phải hoàn trả cho khách hàng trước hạn nếu khách hàng có yêu cầu.
Nếu xét về mặt chi phí lãi đối với việc huy động vốn thì đây được xem là loại nguồn vốn huy động tốn nhiều chi phí hơn cả và mang lại rủi ro thanh khoản khi xảy ra tình trạng rút tiền trước hạn hàng loạt.3 Vai trò của nghiệp vụ huy động vốn tiền gửi: * Đối với ngân hàng thương mại: Hoạt động huy động vốn được xem là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của ngân hàng thương mại vì nếu không có nghiệp vụ này, NHTM sẽ không có đủ nguồn vốn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình như hoạt động cấp tín dụng hay cung cấp dịch vụ ngân hàng cho khách hàng,. Bên cạnh đó, hoạt động huy động vốn có thể là thước đo mức độ uy tín, đánh giá năng lực cạnh tranh và khả năng thanh toán của một ngân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 hàng thương mại, kết quả từ hoạt động huy động vốn sẽ góp phần tăng tính thanh khoản cho NH. Từ đó tìm kiếm và nâng cao các giải pháp góp phần hoàn thiện nghiệp vụ huy động vốn nói riêng cũng như mối quan hệ khách hàng và hoạt động ngân hàng nói chung. * Đối với khách hàng: Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng thương mại mang đến cho các tổ chức kinh tế và các tầng lớp dân cư trong nền kinh tế một cách thức cất giữ tài sản an toàn, tích trữ vốn tạm thời khi nhàn rỗi; đồng thời cung cấp cho khách hàng một kênh đầu tư tiết kiệm có thể mang sinh lợi đến cho tài sản của họ.
Hơn nữa đây là điều kiện để khách hàng tiếp cận được với các dịch vụ ngân hàng thuận tiện và nhanh chóng khác như: thanh toán qua ngân hàng, chuyển khoản, vay vốn … một cách dễ dàng. Huy động vốn sẽ giúp khuyến khích người dân sử dụng các dịch vụ thanh toán, gửi tiền qua ngân hàng. từ đó làm giảm rủi ro, nguy hiểm trong việc cất trữ, vận chuyển tài sản bằng tiền mặt. * Đối với nền kinh tế: Nghiệp vụ huy động vốn làm tăng tiết kiệm cho nền kinh tế khi các nguồn vốn nhàn rỗi được sử dụng hiệu quả và sinh lời thay vì cất trữ dưới dạng tiền mặt không sinh lời.
Mặt khác, khi nền kinh tế có biến động thì thông qua kênh huy động vốn Chính phủ có thể điều tiết lại nền kinh tế bằng công cụ lãi suất trong chính sách vĩ mô của mình. Bởi khi tập trung nguồn vốn nhàn rỗi tại NH, NH sẽ không để không tiền như vậy để phải chịu một chi phí lớn và không mang lại lợi nhuận gì. Ngược lại, ngoài việc phải đảm bảo một lượng dữ trữ bắt buộc tại NHTW, một phần được NH giữ tại quỹ để đảm bảo cho nhu cầu thanh khoản trong thời gian trước mắt.4 Hiệu quả huy động vốn tiền gửi của Ngân hàng thương mại: Hiệu quả hoạt động là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, nếu chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Như vậy, hiệu quả huy động vốn của một NHTM là tổng hợp các chỉ tiêu phản ánh mối tương quan giữa giá trị vốn (hay khối lượng vốn huy động được ) và chi phí phải bỏ ra để có đượ c số vốn đó trong quá trình thực hiện hoạt động huy động vốn , sao cho kết quả thu được là lớn nhất với mức chi phí thấp nhất có thể.
Bên cạnh đó , hiệu quả huy động vốn còn là chỉ tiêu nhằm phản ánh khả năng và trình độ quản lý của một NHTM trong nền kinh tế thị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 trường nhiều tính cạnh tranh như hiện nay. Hiệu quả của công tác huy động vốn tiền gửi trong ngân hàng phải được đánh giá qua các khía cạnh sau như: - Vốn tiền gửi huy động phải xuất phát từ nhu cầu kinh doanh của ngân hàng. - Vốn tiền gửi huy động của ngân hàng phải có sự tăng trưởng, ổn định về số lượng để có thể đáp ứng các nhu cầu cho vay, thanh toán cũng như hoạt động kinh doanh khác ngày càng tăng của ngân hàng. - Vốn tiền gửi huy động phải ổn định tương đối về mặt thời gian.
Nếu ngân hàng huy động được một lượng vốn lớn mà không ổn định về thời gian, có khả năng bị rút bất kỳ lúc nào thì lượng vốn dành cho vay sẽ cạn kiệt. Như vậy hiệu quả sử dụng sẽ không cao và ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản. Vì vậy, việc huy động vốn tiền gửi với khối lượng và thời gian hợp lý có thể mang lại hiệu quả kinh doanh cao cho NHTM. Nếu huy động được ít thì ngân hàng sẽ không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, không đa dạng hoá được các hoạt động kinh doanh, không mở rộng cạnh tranh đựơc và sẽ gặp rủi ro mất khách hàng.
Nhưng nếu huy động nhiều mà không sử dụng hết thì vốn sẽ bị “ đóng băng “ khiến lợi nhuận sẽ bị giảm sút, do vẫn phải trả lãi và các chi phí phi lãi kèm theo như chi bảo quản, kế toán, kho quỹ. mà không có khoản nào bù đắp lại. Nói tóm lại, huy động vốn tiền gửi có hiệu quả là huy động vốn ổn định, vừa đủ đáp ứng nhu cầu kinh doanh của ngân hàng. Nếu huy động vốn tiền gửi có hiệu quả sẽ làm tăng nguồn vốn kinh doanh, tăng doanh số cho vay, tăng lợi nhuận.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn tiền gửi của Ngân hàng thương mại: 1.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng của vốn tiền gửi huy động: Quy mô: Quy mô vốn huy động từ tiền gửi của NHTM là khối lượng (giá trị) nguồn vốn từ tiền gửi mà ngân hàng huy động được trong một thời kỳ nhất định.
Quy mô vốn lớn sẽ tạo điều kiện cho Ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh của mình. Trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng thì quy mô vốn huy động từ tiền gửi là một bộ phận chiếm tỷ trọng cao nhất và có vai trò quan trọng hơn cả.