phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận văn gồm các chƣơng sau: CHƢƠNG 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về CLB ĐN tại các TTVH quận, huyện TP. 15 CHƢƠNG 2: Thực trạng hoạt động CLB ĐN tại các TTVH quận huyện TP. CHƢƠNG 3: Định hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động CLB ĐN tại các TTVH quận, huyện TP. 16 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CÂU LẠC BỘ ĐỘI NHÓM TẠI CÁC TRUNG TÂM VĂN HÓA QUẬN, HUYỆN TP.1 Khái niệm thiết chế văn hóa/ trung tâm văn hóa Theo Từ điển tiếng việt của ban biên soạn chuyên từ điển New Era, do NXB Văn hóa Thông tin, phát hành 2005, “thiết chế” đồng nghĩa với “thể chế” trong đó “thể chế” có hai nghĩa: (1) Cách thức; (2) Chế độ chính trị của một nƣớc.
Với cách cắt nghĩa trên, “thiết chế/ thể chế” là từ thuộc phạm trù xã hội có hàm nghĩa toàn bộ các quy định chi phối một tổ chức, một đoàn thể hoặc là những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi ngƣời phải tuân theo. Thuật ngữ “thiết chế văn hóa” đƣợc sử dụng rộng rãi trong ngành văn hoá Việt Nam từ những năm 70 thế kỷ XX. Cũng nhƣ thiết chế xã hội, thiết chế văn hóa đảm trách nhiều lĩnh vực hoạt động văn hóa - xã hội, đƣợc cấu trúc trong một hệ thống bao gồm: (1) Hệ thống các thiết chế văn hóa/ tổ chức văn hóa có nhiệm vụ xây dựng những chuẩn mực văn hóa, quy tắc hoạt động văn hóa. (2) Hệ thống thiết chế văn hóa/ tổ chức văn hóa có nhiệm vụ tổ chức, hƣớng dẫn các cá nhân và cộng đồng thực thi theo những chuẩn mực xã hội, quy tắc văn hóa đã đƣợc xác lập.
Thiết chế văn hóa/ tổ chức văn hóa là một cấu trúc xã hội hữu hình đƣợc thiết lập ở các cấp với qui mô lớn nhỏ khác nhau. Quy trình hoạt động của nó có tính hệ thống, liên hoàn và tƣơng tác hữu cơ gồm 3 khâu: Sáng tạo, sản xuất - bảo tồn và phân phối tiêu thụ các sản phẩm văn hóa. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, việc phân phối tiêu thụ văn hóa thƣờng gắn liền với các khâu sáng tạo, sản xuất - bảo tồn mà các thiết chế văn hóa/ tổ chức văn hóa ấy làm ra. Do đó, cơ cấu tổ chức hoạt động của các thiết chế văn hóa/ tổ chức văn hóa cũng đƣợc thiết lập tƣơng ứng với 3 nhóm sau: a) Các thiết chế văn hóa/ tổ chức văn hóa thuộc lĩnh vực sáng tạo – sản xuất – phân phối văn hóa: Hội Liên hiệp văn học - nghệ thuật, mỹ thuật, xƣởng phim, 17 xƣởng mỹ nghệ, các đoàn nghệ thuật, công ty điện ảnh, liên đoàn xiếc, cơ quan phát thanh truyền hình, báo chí, các nhà văn hóa, TTVH, công viên văn hóa… b) Các thiết chế văn hóa/ tổ chức văn hóa thuộc lĩnh vực bảo tồn- phân phối văn hóa: các Viện Văn hóa dân gian, Viện Khảo cổ, Hội Di sản văn hóa, các bảo tàng, di tích, các đoàn nghệ thuật truyền thống, các làng nghề truyền thống,… c) Các thiết chế văn hóa/ tổ chức văn hóa thuộc lĩnh vực quảng bá, truyền thông văn hóa: các thƣ viện, trung tâm thông tin – Thƣ viện, Viện Lƣu trữ, Viện Tƣ liệu phim, các cơ quan thông tin đại chúng… Khái niệm thiết chế văn hóa đƣợc sử dụng trong luận văn này thuộc nhóm thứ nhất, tức là các thiết chế văn hóa/ tổ chức văn hóa thuộc nhóm sáng tạo – sản xuất – phân phối văn hóa.
Nhìn ở góc độ hẹp hơn, thiết chế văn hóa hay thiết chế TTVH (các cấp) là cơ quan tổ chức hoạt động rỗi đáp ứng các nhu cầu văn hóa nghệ thuật của nhân dân. Nó hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất; bộ máy tổ chức; hệ thống phƣơng pháp, biện pháp hoạt động và kinh phí hoạt động. Các yếu tố này là điều kiện tiên quyết cho các thiết chế văn hóa/ TTVH thực hiện các chức năng, nhiệm vụ xã hội của nó. Nhƣ vậy, tác giả luận văn cho rằng “Thiết chế văn hóa/ TTVH là cơ quan tổ chức quảng bá, giáo dục văn hóa bằng những biện pháp chuyên môn riêng biệt, thu hút những cá nhân tham gia vào các hoạt động của nó nhằm thỏa mãn nhu cầu văn hóa tinh thần của họ.2 Khái niệm Câu lạc bộ, đội nhóm Khái niệm “Câu lạc bộ” xuất phát từ phƣơng Tây (tiếng Anh, tiếng Pháp: club, tiếng Nga: klyb, phiên ra Hán tự là “Câu lạc bộ”).
Loại hình này xuất hiện ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX, phát triển mạnh sau khi hòa bình thống nhất đất nƣớc năm 1975, đặc biệt là nở rộ cùng với mạng lƣới Nhà văn hóa, TTVH cơ sở (từ năm 1990 đến nay) và trở thành một cụm từ riêng “Câu lạc bộ, đội nhóm” (CLB ĐN). Khái niệm CLB ĐN dùng để chỉ một tập hợp quần chúng có chung một đặc điểm nào đó (về sở thích, nghề nghiệp, lứa tuổi…), hoạt động trên nguyên tắc tự 18 nguyện, có thành lập tổ chức và mục đích hoạt động rõ ràng nhằm đem lại những lợi ích thiết thực cho tất cả hội viên và cho xã hội. Đặc trƣng nổi bật nhất của CLB ĐN giúp phân biệt nó với các tổ chức khác là chế độ tự quản và sự tƣơng tác mạnh mẽ giữa các hội viên theo một chu kỳ sinh hoạt ổn định, các hoạt động chủ yếu diễn ra trong thời gian rỗi. Khái niệm CLB, nhƣ định nghĩa trên, là đƣợc dùng nhiều nhất.
Sự khác nhau, nếu có, trong cách hiểu đội, nhóm, CLB chủ yếu là ở sắc thái, quy mô, thói quen sử dụng…Ví dụ: - Đội: thƣờng dùng để chỉ tập hợp quần chúng mang tính cơ động, “chiến đấu” cao, thƣờng gắn với hoạt động thi đấu, biểu diễn … nhƣ đội TTLĐ, đội văn nghệ, đội bóng, đội cờ… - Nhóm: là hình thức cơ bản của mọi tập hợp quần chúng, thƣờng là tên gọi lúc ban đầu khi chƣa có tổ chức chặt chẽ, có quy mô nhỏ. Ví dụ nhƣ: nhóm bạn giúp nhau cùng học, nhóm tin học, anh văn. Riêng trong khái niệm nhóm của các nhóm múa thì chẳng qua là vì thói quen (ngay từ đầu) gọi nhƣ thế (thay bằng đội múa, CLB múa đều không làm thay đổi nghĩa). Các nhà câu lạc bộ học Xô Viết, từ những năm 1980 đã gọi các khái niệm, chúng ta đang nhắc tới là các hiệp hội CLB.
Trên thực tế hiện nay khái niệm CLB đƣợc dùng rất phổ biến, ngoài khái niệm nêu trên nó còn có các nghĩa thông thƣờng sau đây: - CLB ĐN là một cơ sở hoạt động sự nghiệp, dịch vụ, kinh doanh. Ví dụ: CLB thể dục thẩm mỹ, CLB billard… - CLB ĐN là một tổ chức, một hội những ngƣời cùng nghề nghiệp: nhƣ CLB doanh nhân Sài Gòn, CLB đầu bếp, CLB giám đốc … - CLB ĐN là một tổ chức chuyên nghiệp hoạt động theo những đặc thù nghề nghiệp và quy luật thị trƣờng nhƣ các CLB chuyên nghiệp của ngành TDTT (CLB bóng đá TP.HCM), các nhóm múa, vũ đoàn, nhóm ca chuyên nghiệp… - CLB ĐN là một sân chơi giao lƣu, một loại hình hoạt động dịch vụ nhƣ: CLB khiêu vũ, CLB hát với nhau… 19 1.3 Phân loại CLB ĐN - CLB Văn hóa nghệ thuật: Bao gồm những CLB sinh hoạt với nội dung liên quan đến lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Đây là một trong những loại hình CLB phổ biến và chiếm tỉ lệ cao trong tổng số các CLB đang sinh hoạt trực thuộc hệ thống TTVH quận huyện trên địa bàn TP. Các CLB Văn hóa nghệ thuật sinh hoạt những nội dung liên quan đến văn hóa Việt Nam và nƣớc ngoài, các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống, hiện đại ví dụ nhƣ các CLB sáng tác ca khúc, CLB múa dân gian, CLB múa hiện đại, CLB khiêu vũ nghệ thuật, CLB Đờn ca tài tử Các CLB sinh hoạt các nội dung liên quan đến các nhạc cụ nhƣ guitar, piano, organ, nhạc cụ dân tộc… - CLB Thể dục thể thao: Ngoài các CLB Văn hóa nghệ thuật thì CLB Thể dục thể thao là loại hình CLB đƣợc thành lập khá nhiều ở các đơn vị TTVH Quận huyện TP.
Các môn thể thao đƣợc sinh hoạt tại các CLB này cũng khá đa dạng nhƣ bóng chuyền, bóng đá, bơi lội, võ thuật, thể dục dƣỡng sinh, thể dục thẩm mỹ, thể hình… Các CLB Thể dục thể thao ở các quận huyện đã góp phần thúc đẩy phong trào rèn luyện sức khỏe và tạo một lối sống vui khỏe, lành mạnh cho ngƣời dân địa phƣơng. - CLB Chính trị xã hội: Đây là loại hình CLB sinh hoạt liên quan đến những nội dung nhƣ tuyên truyền các chính sách của Đảng và nhà nƣớc, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ví dụ nhƣ các CLB Ca khúc truyền thống cách mạng, CLB Hƣu trí, CLB Về nguồn, CLB Ông bà cháu, CLB Phụ nữ hai giỏi…Loại hình CLB Chính trị xã hội góp phần đắc lực và hiệu quả trong công tác tuyên truyền các định hƣớng của Đảng và Nhà nƣớc đến nhân dân địa phƣơng thông qua nhiều hình thức sinh hoạt nhƣ tọa đàm, biểu diễn văn nghệ, các hội thi liên hoan, hội diễn. - CLB khoa học kỹ thuật: Đây là loại hình CLB sinh hoạt liên quan đến những nội dung nhƣ trao đổi kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, kinh doanh, các công việc liên quan đến khoa học, sáng tạo khoa học, đòi hỏi phải có trình độ kỹ thuật nhất định ví dụ nhƣ CLB Mô hình, CLB Tin học, CLB khuyến nông, CLB kỹ 20 thuật trồng hoa lan…Các CLB khoa học kỹ thuật sẽ góp phần đƣa khoa học kỹ thuật đến gần hơn với công việc, học tập và cuộc sống của ngƣời dân địa phƣơng 1.4 Vai trò của các CLB ĐN trong công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là chủ trƣơng quan trọng và có ý nghĩa chiến lƣợc đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong những năm qua, công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở đã đƣợc các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và quần chúng đặc biệt quan tâm.
Để có thể nâng cao chất lƣợng và hiệu quả xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là quá trình liên tục, lâu dài, đòi hỏi một quy trình lãnh đạo, quản lý đồng bộ, toàn diện, đề cao tính tự quản của nhân dân ở mỗi cộng đồng.