Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả đào tạo nhân lực Chương 3: Phân tích thực trạng hiệu quả đào tạo tại Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam Chương 4: Đề xuất các giải pháp với vấn đề nâng cao hiệu quả đào tạo tại Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung 5 Lớp: K48U5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Chu Thị Thủy CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO 2. Một số định nghĩa, khái niệm về hiệu quả đào tạo 2. Khái niệm nguồn nhân lực Nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất.
Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc tình trạng sức khỏe của từng người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ nghỉ ngời, độ tuổi giới tính. Trí lực là chỉ sự suy nghĩ hiểu biết sự tiếp thu kiến thức, tài năng, quan điểm, lòng tin, nhân cách của từng con người (Trích-Quản trị nhân lực trong doanh nghiệp- TS. Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, có quan hệ chặt chẽ với dân số, là bộ phận quan trọng trong dân số, đóng vai trò tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội.(Trích-Kinh tế nguồn nhân lực- PGS.TS Trần Xuân Cầu) Theo định nghĩa của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế-xã hội trong một cộng đồng. Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và để có thể lượng hóa được trong công tác kế hoạch hóa ở nước ta được quy định là một bộ phận của dân số, bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động trong bộ luật lao động Việt Nam ( Nam đủ 15-60 tuổi, Nữ đủ 15-55 tuổi ).
Trên cơ sở đó một số nhà khoa học Việt Nam đã xác định nguồn nhân lực hay nguồn lực con người bao gồm nguồn lực lao động và lao động dự trữ. Trong đó lực lượng lao động được xác định là người lao động đang làm việc và người trong độ tuổi lao đông có nhu cầu nhưng không có việc làm ( người thất nghiệp). Lao động dự trữ bao gồm học sinh trong độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động nhưng không có nhu cầu lao động. “Nguồn nhân lực của một Tổ chức chính là tập hợp những người lao động làm việc trong Tổ chức đó.
Là tất cả các thành viên trong Tổ chức sử dụng kiến thức, kỹ năng, trình độ, kinh nghiệm, hành vi đạo đức để thành lập, phát triển và duy trì doanh nghiệp”. SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung 6 Lớp: K48U5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Chu Thị Thủy 2. Khái niệm đào tạo nhân lực Theo giáo trình Quản trị nhân lực trong doanh nghiệp của TS.
Hà Văn Hội- NXB Bưu Điện 2007, đào tạo được hiểu là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn các chức năng nhiệm vụ của mình. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của TS. Vũ Thùy Dương và TS. Hoàng Văn Hải- NXB Thống Kê 2008 : “Đào tạo nhân lực là quá trình cung cấp các kiến thức hoàn thiện kỹ năng, rèn luyện các phẩm chất nghề nghiệp cho người lao động trong doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu trong quá trình thực hiện công việc của họ ở cả hiện tại và tương lai”.
Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn. “Đào tạo nhân lực là quá trình nâng cao năng lực của con người về mặt thể lực, trí lực, tâm lực đồng thời phân bổ, sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất năng lực của nguồn nhân lực để phát triển doanh nghiệp, đât nước”. Công tác đào tạo nhân lực liên quan đến đối tượng mới được tuyển dụng cũng như đối tượng đang làm việc tại doanh nghiệp.
Nội dung của đào tạo liên quan đến bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng để đảm nhiệm tốt công việc hiện tại. Hình thức đào tạo cũng cần đa dạng để phù hợp với các đối tượng và các nội dung khác nhau, đồng thời không làm gián đoạn hoạt động của doanh nghiệp. Khái niệm hiệu quả và hiệu quả đào tạo Theo Giáo trình Kinh tế doanh nghiệp thương mại, PSG. TS Phạm Công Đoàn, TS.
Nguyễn Cảnh Lịch, NXB Thống kê, 2012, “Hiệu quả là mối tương quan só sánh giữa kết quả đạt được theo mục tiêu đã được xác định với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”. Để hoạt động, doanh nghiệp thương mại phải có các mục tiêu hành động của mình trong từng thời kỳ, đó có thể là các mục tiêu xã hội cũng có thể là các mục tiêu kinh tế của chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp luôn tìm cách để đạt được mục tiêu đó với chi phí thấp nhất. Đó là hiệu quả. Hiệu quả đào tạo được hiểu là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh quá trình đầu tư cho công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp (doanh thu, lợi nhuận, và lợi ích cá nhân thu được từ phía người đào tạo) khái niệm này có thể được diễn giải như sau: SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung 7 Lớp: K48U5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Chu Thị Thủy Một là: Được đào tạo và phát triển mà người đó nhanh chóng nắm bắt được kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm ứng dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đem lại năng suất cao. Hai là: Được đào tạo và phát triển tốt NLĐ với trình độ của mình sẽ tham gia vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mang lại doanh thu có thể bù đắp được những chi phí kinh doanh và chi phí đào tạo đã bỏ ra mà lợi nhuận vẫn tăng lên so với trước. Ba là: Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực góp phần thực hiện được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp với mục đích đào tạo đề ra. Bốn là: Đào tạo và phát triển ra được đội ngũ cán bộ, nhân viên kế cận cho sự phát triển của doanh nghiệp.
“Hiệu quả đảo tạo nhân lực là kết quả và lợi ích thu được của hoạt động đào tạo đối với doanh nghiệp và đối với người lao động. Hiệu quả đào tạo chính là hiệu quả về khả năng, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ quản lý của cán bộ nhân viên trước và sau quá trình đào tạo, đem lại hiệu quả kinh tế kết hợp với các hoạt động bổ trợ khác như: hiệu quả trong hoạt động tài chính, hoạt động đào tạo, phát hiện ra những sai sót cần được khắc phục, cải tiến trong khóa đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, phục vụ mục tiêu và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp”. Đánh giá hiệu quả đào tạo là cơ sở để xem xét lợi ích mà hoạt động đào tạo mang lại cho doanh nghiệp và xác định những thiếu sót, yếu kém của hoạt động này để có phương pháp sửa đổi và hoàn thiện công tác đào tạo trong giai đoạn sau. Nâng cao hiệu quả đào tạo là quá trình bổ sung kiến thức, kỹ năng, phẩm chất nghề nghiệp cho người lao động để người lao động đáp ứng công việc ở hiện tại và tương lai.
Mặt khác nâng cao hiệu quả là quá trình tối đa hóa chi phí đào tạo, sao cho hiệu quả đào tạo là tốt nhất và chi phí đào tạo là thấp nhất. Khái niệm chi phí đào tạo Theo Giáo trình Kinh tế doanh nghiệp thương mai, PGS. TS Phạm công Đoàn – TS. Nguyễn Cảnh Lịch, NXB Thống Kê, 2012, Chi phí là giá các hàng hóa và dịch vụ đã sử dụng trong quá trình tạo ra doanh thu bán hàng của doanh nghiệp, bao gồm chi phí mua hàng, tiền lương trả cho người lao động, tiền thuê nhà, tiền thuê quảng cáo, tiền điện nước, tiền bưu điện phí… “Chi phí đào tạo là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động thuật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra để đào tạo nhân viên hoặc một chu kỳ đào tạo nhất định (tháng, quý, năm) thực chất chi phí bằng sự chuyển dịch vốn, giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá như (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ)”.
Các loại chi phí đào tạo bao gồm: chi phí xác định và chi phí cơ hội. SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung 8 Lớp: K48U5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Chu Thị Thủy - Chi phí xác định là những khoản thực chi, thực trả , thực thanh toán như: chi phí để thuê giảng viên, chi phí thuê sơ sở vật chất, chi phí cho các loại giấy tờ, đề thi… Các khoản chi này được phản ánh chính xác trên sổ sách kế toán. - Chi phí cơ hội là những khoản thu bị mất do lựa chọn phương án này mà không lựa chọn phương án khác.
Nội dung hiệu quả đào tạo nhân lực nhân viên trong doanh nghiệp 2. Sự cần thiết phải đào tạo lao động một cách hiệu quả Với Nhà nước Hội nghị toàn quốc khóa VII giữa nhiệm kỳ Đảng ta xác định “Công nghiệp hóa thực chất là xây dựng cơ sở vật chât - kỹ thuật của Chủ nghĩa xã hội. Đó không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và lâu bền của nền kinh tế quốc dân” Công nghiệp hóa hiện đại hóa là quá trình ứng dụng những tiến bộ khoa học tiên tiến để phát triển kinh tế xã hội. Để thực hiện nhiệm vụ trọng đại đưa nền kinh đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển vấn đề phát huy nội lực là giải pháp quyết định.