CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại - “Ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ khác cho khách hàng là tổ chức và cá nhân.” [3, trang 52] - Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010 [1, điều 4, khoản 3]: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo qui định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” 1. Chức năng của ngân hàng thương mại 1.
Chức năng trung gian tín dụng Với chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay. Với chức năng này, ngân hàng thương mại đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia, bao gồm người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay, đống thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Chức năng trung tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại vì nó phản ánh bản chất của ngân hàng thương mại, đó là đi vay để cho vay, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, đồng thời cũng là cơ sở để thực hiện các chức năng khác. Chức năng trung gian thanh toán Ngân hàng thương mại làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh Trang 4 of Economics, Hue University Khóa luận tốt nghiệp toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của khách hàng.
Chức năng này của ngân hàng thương mại góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Đồng thời, chức năng này của ngân hàng thương mại đã góp phần giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, giúp tiết kiệm các chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, bảo quản tiền,. Chức năng tạo tiền Với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại có khả năng tạo ra tiền tín dụng thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại. Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch.
Quá trình tạo tiền chỉ có thể thực hiện được khi có sự tham gia của cả hệ thống ngân hàng thương mại chứ bản thân một ngân hàng thương mại thì không thể tạo ra tiền được. Với chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng phương tiền thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại 1. Nghiệp vụ huy động vốn Nghiệp vụ huy động vốn là nghiệp vụ huy động, tạo nguồn vốn kinh doanh cho ngân hàng thương mại.
Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại được phép sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế. Nghiệp vụ huy động vốn được phản ánh thông qua cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng thương mại, bao gồm: vốn của ngân hàng, vốn huy động, vốn đi vay, vốn tiếp nhận và các nguồn vốn khác. Nghiệp vụ sử dụng vốn Trang 5 of Economics, Hue University Khóa luận tốt nghiệp Nghiệp vụ sử dụng vốn của ngân hàng thương mại bao gồm các nghiệp vụ liên quan tới việc sử dụng các khoản vốn huy động được từ nghiệp vụ tài sản nợ, bao gồm: - Thiết lập dự trữ: Để đáp ứng nhu cầu thanh toán, các ngân hàng phải để dành một phần nguồn vốn không sử dụng để đáp ứng nhu cầu sẵn sàng chi trả cho khách hàng. Phần vốn này được gọi là dự trữ.
Dự trữ là một bộ phận cần thiết và tất yếu đối với mọi ngân hàng, để đảm bảo an toàn chung cho toàn hệ thống. - Hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm mục đích kiếm lời, song cần phải bảo đảm an toàn để giữ được lòng tin của khách hàng. Muốn có được sự tin cậy về phía khách hàng, trước hết phải bảo đảm khả năng thanh toán, đó là đáp ứng được nhu cầu rút tiền của khách hàng. Muốn vậy, các ngân hàng phải để dành một phần nguồn vốn để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán.
Phần vốn để dành này được gọi là dự trữ. - Cấp tín dụng: Đây là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Số nguồn vốn còn lại sau khi để dành một phần dự trữ, các ngân hàng thương mại có thể dùng để cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân, bao gồm: + Cho vay trực tiếp: Là một nghiệp vụ cấp tín dụng của ngân hàng thương mại. Trong đó ngân hàng thương mại sẽ cho người đi vay, vay một số vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng.
Khi đến hạn người đi vay phải hoàn trả vốn và tiền lãi. Căn cứ các tiêu thức sau để phân loại nghiệp vụ cho vay: Căn cứ theo tiêu thức thời hạn tín dụng, cho vay chia làm 3 loại: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn Căn cứ theo tiêu thức đảm bảo tiền vay, cho vay chia làm 2 loại: cho vay có đảm bảo và cho vay không có đảm bảo. Căn cứ vào tiêu thức phương pháp cấp tiền vay, cho vay chia làm 2 loại: Cho vay chỉ có 1 kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay một lần đến khi đáo hạn và cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp. Trang 6 of Economics, Hue University Khóa luận tốt nghiệp + Chiết khấu: Đây là nghiệp vụ tín dụng gián tiếp, theo đó ngân hàng thương mại sẽ mua lại các chứng từ có giá trước khi đến hạn thanh toán với một số tiền nhỏ hơn giá trị thanh toán của chứng từ khi đến hạn, chênh lệch giữa hai giá trị này chính là lợi tức chiết khấu mà ngân hàng thương mại được hưởng.
Các đối tượng trong nghiệp vụ này bao gồm: hối phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá khác. + Tín dụng thuê mua: Là loại hình tín dụng trung, dài hạn. Trong đó các công ty cho thuê tài chính dùng vốn của mình hay vốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê và tiến hành cho thuê trong một thời gian nhất định. Người đi thuê phải trả tiền thuê cho công ty cho thuê tài chính theo định kỳ.
Khi kết thúc hợp đồng thuê, người đi thuê được quyền mua hoặc kéo dài thêm thời hạn thuê hoặc trả lại thiết bị cho bên cho thuê. Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động công ty cho thuê tài chính thực hiện theo Nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính. + Thấu chi: Là hình thức cấp tín dụng cho phép khách hàng sử dụng vượt quá số dư trong phạm vi hạn mức tín dụng đã thỏa thuận trong thời gian nhất định trên tài khoản vãng lai hay tài khoản sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng.
Kỹ thuật này giúp khách hàng sử dụng vốn linh hoạt và tiện lợi, thường áp dụng đối với khách hàng có khả năng tài chính lành mạnh và có uy tín. + Tín dụng chấp nhận: Ngân hàng thương mại tiến hành ký chấp nhận vào thương phiếu, hối phiếu, thực hiện cam kết thanh toán. Nếu đến hạn, người trả tiền không thanh toán thì ngân hàng thương mại chấp nhận sẽ đứng ra thanh toán thương phiếu, hối phiếu. + Bảo lãnh ngân hàng: Là cam kết bằng văn bản của ngân hàng thương mại (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực Trang 7 of Economics, Hue University Khóa luận tốt nghiệp hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã được trả thay. + Các hình thức khác: như đồng tài trợ, cho vay hợp vốn, cho vay liên kết, bao thanh toán,. - Đầu tư: Đây là khoản mục có vị trí quan trọng thứ hai sau cho vay, mang lại khoản thu nhập lớn và chia sẻ rủi ro với các hoạt động khác của ngân hàng thương mại. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng sẽ sử dụng vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác để đầu tư dưới các hình thức như: + Hùn vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các công ty, xí nghiệp, việc hùn vốn mua cổ phần chỉ được phép thực hiện bằng vốn của ngân hàng.
+ Mua trái phiếu của Chính phủ, Chính quyền địa phương, trái phiếu công ty,. - Sử dụng vốn cho mục đích khác: Ngân hàng sử dụng nguồn vốn để mua sắm thiết bị, dụng cụ phục vụ cho hoạt động kinh doanh, xây dựng trụ sở ngân hàng, hệ thống kho bãi và các chi phí khác. Nghiệp vụ trung gian Bao gồm các hoạt động sau: + Các dịch vụ thanh toán thu chi hộ cho khách hàng. + Nhận bảo quản các tài sản quý giá, các giấy tờ quan trọng.
+ Bảo quản, mua bán hộ chứng khoán theo ủy nhiệm của khách hàng. + Kinh doanh mua bán vàng bạc, đá quý, ngoại tệ. + Tư vấn tài chính. Tổng quan về cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Để hiểu rõ khái niệm cho vay khách hàng cá nhân, trước hết ta cần nắm rõ khái niệm về cho vay. Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, ta có một số khái niệm liên quan đến cho vay: - “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một Trang 8 of Economics, Hue University Khóa luận tốt nghiệp thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.