CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tạo động lực cho người lao động 1. Khái niệm động lực làm việc và nâng cao động lực làm việc Theo Gail Carr (2005), động lực làm việc là sự thúc đẩy từ bên trong, dựa trên nền tảng các nhu cầu cơ bản một cách có ý thức và vô thức của một cá nhân mà chính điều đó dẫn dắt người lao động để đạt mục tiêu. Theo Mitchell (1982), động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình. Động lực hay động cơ là “sức mạnh tác động lên một người hoặc sức mạnh nảy sinh trong lòng anh ta, thúc đẩy người đó hành động hướng đến một mục tiêu nhất định.
Một người lao động có động cơ làm việc cao là người năng động, chịu đầu tư sức lực và tinh thần để hoàn thành công việc của mình và đạt được chỉ tiêu đề ra” (Huỳnh Thanh Tú, 2013, trang 107). Ta cần phân biệt hai khái niệm động lực và sự thỏa mãn. Động lực là sự thôi thúc, khuyến khích cố gắng để đạt được điều mong muốn. Còn sự thỏa mãn là sự hài lòng, toại nguyện khi điều mong muốn được đáp ứng.
Có thể nói, “động lực làm việc của người lao động là sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện một số nhu cầu cá nhân được thỏa mãn theo khả năng của họ” (Robbin, 1998). Nâng cao động lực là tìm kiếm, tạo ra kích thích nhằm thôi thúc, khuyến khích, động viên con người thực hiện hành vi để đạt được mục tiêu. Nâng cao động lực làm việc cho người lao động là sử dụng hệ thống chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động đến người lao động thúc đẩy họ nâng cao tinh thần làm việc. Bản chất của động lực làm việc xuất phát từ nhu cầu và sự thõa mãn nhu cầu của người lao động.
Chính động lực làm rút khoảng cách giữa nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu.2 Vai trò và ý nghĩa của nâng cao động lực làm việc cho người lao động Động lực có vai trò tăng năng suất lao động kể cả trong điều kiện các yếu tố đầu vào khác không thay đổi. Động lực như một sức mạnh vô hình khiến người 123doc 6 lao động cảm thấy hăng say làm việc, không ngừng sáng tạo để đạt được mục tiêu. Người lao động có động lực sẽ làm việc đạt 80-90% hiệu suất, tỷ lệ nghỉ việc và nghỉ phép thấp (Farhann Arman, 2009). Tạo động lực làm việc còn làm tăng lòng trung thành của người lao động đối với tổ chức (MW Owar, 2010).
Để người lao động vui vẻ, hứng thú, sáng tạo và cháy hết mình cho công việc thì cần có biện pháp tạo động lực hiệu quả. Như vậy, việc nâng cao động lực làm việc cho người lao động có vai trò rất quan trọng: - Đối với người lao động: Tạo động lực giúp người lao động nhận biết được ý nghĩa và kết quả tốt đẹp khi họ hoàn thành công việc một cách xuất sắc. Từ đó họ sẽ có suy nghĩ và thái độ tích cực với công việc của mình, hăng hái lao động, luôn cố gắng phấn đấu hoàn thành mục tiêu. - Đối với tổ chức: Thành công trong việc tạo động lực cho người lao động không những nâng cao hiệu quả lao động, tăng doanh thu lợi nhuận mà còn giúp gắn kết người lao động với tổ chức, từ đó củng cố hơn sự trung thành của người lao động.
Hơn hết, việc sở hữu nguồn nhân lực có chất lượng lại mang tính bền vững sẽ trở thành một lợi thế cạnh tranh quan trọng tạo nên sự khác biệt cho doanh nghiệp giữa môi trường cạnh tranh khốc liệt như ngày nay.3 Các học thuyết liên quan đến động lực làm việc Thuyết nhu cầu Maslow (1943) Năm 1943, Maslow đã đưa ra lý thuyết về thang bậc nhu cầu của con người từ thấp đến cao theo hình kim tự tháp. Nhu cầu con người được chia làm hai nhóm chính là nhu cầu cấp thấp và nhu cầu cấp cao. Sự thỏa mãn nhu cầu ở cấp thấp sẽ là động lực thúc đẩy nhu cầu ở cấp cao hơn. Bao gồm: - Nhu cầu sinh lý bao gồm nhu cầu như ăn uống, ngủ nghỉ.
- Nhu cầu an toàn bao gồm nhu cầu làm việc trong khu vực an ninh, có bảo hiểm. - Nhu cầu xã hội bao gồm nhu cầu giao tiếp, tạo quan hệ tốt đẹp với người khác. 123doc 7 - Nhu cầu được tôn trọng mong muốn sự công nhận, đánh giá cao từ người khác. - Nhu cầu thể hiện bao gồm nhu cầu con người làm việc theo đam mê, sở thích, sáng tạo… để khẳng định giá trị bản thân.
Thuyết nhu cầu ERG của Alderfer (1972) Thuyết này chia nhu cầu của con người thành 3 mức: (i) Nhu cầu tồn tại; (ii) Nhu cầu giao tiếp; và (iii) Nhu cầu phát triển. Thuyết EGR cho rằng: Tồn tại cùng một thời điểm có thể có nhiều nhu cầu ảnh hưởng đến ĐLLV. Khác với quan điểm con người chỉ có nhu cầu ở mức cao khi đã đáp ứng nhu cầu ở mức thấp của Maslow, Alderfer cho rằng khi một nhu cầu nào đó bị cản trở và không được thỏa mãn thì con người có xu hướng dồn nỗ lực sang thõa mãn các nhu cầu khác. Thuyết EGR còn giải thích được tại sao nhiều người lao động hay tìm kiếm điều kiện làm việc tốt hơn ngay cả khi nó đã rất tốt và đạt chuẩn của thị trường, đó là do nhu cầu giao tiếp và phát triển chưa thỏa mãn được họ.
Thuyết hai yếu tố của Herzberg (1959) Lý thuyết hai yếu tố của Herzberg và cộng sự (1959) đã đưa ra 02 nhân tố bao gồm: (i) Nhân tố không hài lòng: là tác nhân của sự không hài lòng của nhân viên trong công việc tại một tổ chức bất kỳ (bao gồm: thành tích, sự công nhận, bản thân công việc, trách nhiệm, sự tiến bộ và tăng trưởng) và nhân tố hài lòng: là tác nhân của sự hài lòng trong công việc (bao gồm: chính sách của công ty, tiền lương, mối quan hệ đồng nghiệp và phong cách giám sát hoặc quản lý, môi trường làm việc). Thuyết kỳ vọng của Victor Vroom (1964) Kỳ vọng chính là mong muốn nhận được cái gì sau khi hoàn thành một công việc hoặc một nhiệm vụ nào đó. Nếu ta biết được mong muốn của người lao động thì sẽ kích thích họ nỗ lực làm việc hơn từ đó sẽ tạo ra thành tích cao hơn. 123doc 8 Nếu kích thích đúng thì sẽ tạo ra lợi ích cho cả hai phía là người lao động và tổ chức.
Nỗ lực của người lao động căn cứ vào phần thưởng sau khi thực hiện xong công việc mang lại cho họ. Nếu phần thưởng mang lại mà tích cực như tiền lương cao, cơ hội thăng tiến… thì họ sẽ cố gắng, nỗ lực làm việc. Nhưng nếu phần thưởng mang lại tiêu cực như mệt mỏi, nhàm chán, chịu áp lực cao… thì họ cũng có thể cố gắng nhưng đó không phải là động lực mà là sự ép buộc, nếu chịu áp lực quá có thể họ sẽ rời bỏ tổ chức. Học thuyết này nhấn mạnh đến công tác trả công, trả thưởng cho người lao động.
Đây là một vấn đề rất nhạy cảm và có tác động lớn đối với người lao động. Người lao động muốn tối đa hóa độ thỏa mãn được kỳ vọng của mình, còn nhà quản lý phải quan tâm đến mức tiền công, tiền thưởng để đảm bảo chi phí đó không vượt quá kết quả làm được của người lao động nhưng vẫn đảm bảo sức hấp dẫn đối với họ. Học thuyết này do Victor H. Vroom, người gốc Canada đưa ra.
Học thuyết chỉ ra rằng các cá nhân sẽ có động lực nếu họ tin vào: - Mối quan hệ xác thực giữa các cố gắng và thành tích đạt được; - Thành tích của người lao động sẽ mang lại cho người lao động phần thưởng xứng đáng. - Phần thưởng mà người lao động đạt được sẽ làm thỏa mãn những nhu cầu quan trọng của họ. - Sự mong muốn thỏa mãn các nhu cầu đủ mạnh để người lao động có những cố gắng cần thiết. Lý thuyết này của Victor H.
Vroom có thể được áp dụng trong quản lý nhân viên tại cơ quan, doanh nghiệp, theo đó các nhà quản lý nên hoạch định các chính sách quản trị nhân lực sao cho các chính sách này phải thể hiện rõ mối quan hệ giữa nỗ lực và thành tích, giữa thành tích- kết quả và phần thưởng, đồng thời tạo nên sự hấp dẫn của các kết quả/ phần thưởng đối với người lao động khi thực hiện những điều này, động lực lao động của người lao động sẽ tạo ra. Các nghiên cứu có liên quan 1. Các nghiên cứu trong nước Phạm Thị Minh Lý (2015) thực hiện nghiên cứu về động lực làm việc của nhân viên của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Tp. Phạm Thị Minh Lý (2015) thực hiện khảo sát 386 nhân viên văn phòng đang làm việc toàn thời gian tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TP.
Kết quả tìm ra được 4 nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên, bao gồm: (1) Đồng nghiệp; (2) Trao quyền; (3) Bản chất công việc; và (4) Lãnh đạo. Đồng nghiệp Trao quyền Động lực làm việc Bản chất công việc Lãnh đạo Hình 1. Nghiên cứu của Phạm Thị Minh Lý (2015) (Nguồn: Phạm Thị Minh Lý (2015) 123doc 10 Trịnh Thùy Anh và Huỳnh Thị Trúc Linh (2017) thực hiện nghiên cứu về động lực làm việc của nhân viên tổng công ty phát triển khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai. Trịnh Thùy Anh và Huỳnh Thị Trúc Linh (2017) cho rằng động lực làm việc của nhân viên chịu tác động bởi: nhu cầu đạt được thành tựu, nhu cầu kết nối, nhu cầu hiểu biết và nhu cầu được bảo vệ.
Trịnh Thùy Anh và Huỳnh Thị Trúc Linh (2017) thực hiện khảo sát 376 nhân viên Tổng Công ty Sonadezi. Kết quả nghiên cứu cho thấy: động lực làm việc của nhân viên tổng công ty phát triển khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai chịu tác động bởi: nhu cầu đạt được thành tựu, nhu cầu kết nối, nhu cầu hiểu biết và nhu cầu được bảo vệ. Nhu cầu đạt được thành tựu Nhu cầu kết nối Động lực làm việc Nhu cầu hiểu biết Nhu cầu được bảo vệ Hình 1. Nghiên cứu của Trịnh Thùy Anh và Huỳnh Thị Trúc Linh (2017) (Nguồn: Trịnh Thùy Anh và Huỳnh Thị Trúc Linh (2017) Lê Ngọc Nương và cộng sự (2017) thực hiện nghiên cứu về động lực làm việc của nhân viên tại công ty công ty quản lý và xây dựng giao thông Thái Nguyên.