CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Khái niệm về động lực làm việc Các nhà quản trị làm việc với con người, và thông qua họ để đạt được mục tiêu. Đây là một công việc khó khăn vì con người thường phức tạp và không phải lúc nào cũng ứng xử một cách hợp lý. Đặc biệt rất khó để hiểu một cách chính xác tại sao con người hăng hái làm việc.
Các lý thuyết quản trị đều dành nhiều công sức để giải thích các động lực đã thúc đẩy con người làm việc, và tùy theo sự giải thích các động lực mà lý thuyết quản trị đã có những ý kiến khác nhau và những biện pháp mà nhà quản trị nên áp dụng để nhằm đạt được sự đóng góp tối đa của con người vào sự nghiệp chung. Động lực làm việc thể hiện qua sự sẵn sàng cố gắng của một người ở mức độ cao để hướng tới hoàn thành các mục tiêu của tổ chức, với điều kiện một số nhu cầu của họ được thỏa mãn (Robbins, 1998). Khi con người có nhu cầu và mong muốn thỏa mãn nhu cầu sẽ thúc đẩy họ suy nghĩ, lựa chọn cách thức hành động. Điều này có vẻ như là sự tự nguyện nhưng thực chất họ đang bị chính áp lực của nội tâm thúc đẩy hành động.
Tuy nhiên, động lực làm việc và sự thỏa mãn là khác nhau. Động lực là xu hướng và sự cố gắng nhằm đạt được mong muốn nhất định còn sự thỏa mãn là sự toại nguyện khi điều mong muốn được đáp ứng (Trần Kim Dung, Nguyễn Ngọc Lan Vy, 2011). Một số lý thuyết về động lực làm việc 1. Thuyết nhận thức 1.
Thuyết công bằng của Adam (1963) Lý thuyết công bằng là một quan điểm về động lực làm việc đã trở nên phổ biến nhờ công trình của giáo sư trường Đại học Bắc Carolina, J Stacy Adams. Lý thuyết này cho rằng sự bất công nhận thấy được là một động lực. Khi một người tin rằng mình bị đối xử bất công so với những người khác, thì họ sẽ cố gắng phá bỏ sự bất công đó. Mọi người đều cho rằng con người đánh giá sự công bằng bằng tỷ số đầu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 vào trên đầu ra.
Đầu vào của công việc (quyền lợi cá nhân) gồm có tiền công, sự công nhận, việc đề bạt, và các khoản phụ cấp. Đầu ra đối với một công việc (Sự đóng góp cá nhân) gồm có kinh nghiệm, sự nỗ lực và năng lực. Và họ cũng có xu hướng so sánh công sức, sự đóng góp của họ với những quyền lợi mà họ nhận được với của những đồng nghiệp trong tổ chức. Quyền lợi cá nhân Quyền lợi của những người khác = Sự đóng góp của cá nhân Sự đóng góp của những người khác Nếu kết quả của sự so sánh đó là ngang bằng nhau thì họ sẽ tiếp tục duy trì nỗ lực làm việc của mình.
Khi quyền lợi cá nhân lớn hơn sự đóng góp cá nhân, vượt quá mong đợi của họ, họ sẽ có xu hướng gia tăng công sức của họ trong công việc. Tuy nhiên, khi quyền lợi cá nhân thấp hơn sự đóng góp cá nhân, họ có xu hướng từ bỏ công việc đó; thay đổi đầu vào được dành cho công việc đó, chẳng hạn như làm việc ít hơn hay thường xuyên vắng mặt hơn; thay đổi những kết quả đầu ra bằng cách yêu cầu và nhận một mức tiền công cao hơn, hay yêu cầu và nhận những khoản phụ cấp thêm; thay đổi cách nhận thức những kết quả công việc đã thu được. Một người có thể xem phần được đền đáp của mình lớn hơn hẳn so với khi so sánh đầu tiên. Và một khi nhân viên cảm thấy bị thiệt thòi hơn đồng nghiệp, họ sẽ có những phản ứng tiêu cực như lười biếng, thiếu tự giác, thậm chí là chống đối.
Thuyết mong đợi của Vroom (1964) Lý thuyết mong đợi đã được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1964 qua quan điểm của nhà tâm lý học Vroom xem động cơ như một quá trình chi phối việc lựa chọn. Vroom cho rằng trong khi làm việc các cá nhân có động cơ để lựa chọn trong số những hành vi khác nhau - chẳng hạn như cường độ của sự nỗ lực làm việc. Một người có thể lựa chọn cách làm việc với nhịp độ vừa phải hay với nhịp độ tăng tốc. Việc lựa chọn là do cá nhân đó thực hiện.
Nếu một người tin tưởng rằng sự nỗ lực làm việc của mình sẽ được tưởng thưởng xứng đáng, thì nỗ lực đó sẽ có động cơ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 thúc đẩy; kết quả lựa chọn sẽ là làm việc làm sao để có thể nhận được phần thưởng mong muốn. Logic của động cơ mong đợi là các cá nhân đều nỗ lực làm việc để đạt được thành tích dẫn đến những phần thưởng mong muốn. Ba biến quan trọng hàng đầu của lý thuyết mong đợi là sự lựa chọn, mong đợi và các sở thích. Sự lựa chọn xác định quyền tự do của cá nhân trong việc lựa chọn một trong số những phương án hành động.
Ví dụ, một người có thể làm việc nhanh hay chậm, tích cực hay cầm chừng, công nhân viên có thể ở nhà hay đi làm. Trong một số trường hợp làm việc nhanh có thể dẫn đến nhiều tiền công hơn, nếu chế độ thù lao được xây dựng căn cứ theo số đơn vị sản phẩm làm ra. Mong đợi sẽ bằng không, nếu người đó tin rằng không thể nào làm được. Các sở thích mà Vroom cũng còn gọi là các hóa trị, là những giá trị mà người đó gán cho các kết quả khác nhau (các phần thưởng và hình phạt).
Một vấn đề nữa cũng nằm trong mô hình mong đợi là phương tiện – xác suất mà người đó quy cho mối liên kết kết quả thực hiện - kết quả nhận được. Đó chính là xác suất để cho mức độ thực hiện cụ thể sẽ dẫn đến một kết quả nhận được nhất định. Muốn dự đoán xem một người sẽ lựa chọn con đường A hay B, cần phải xem xét những mối quan hệ qua lại của các biến trong mô hình đó. Động lực làm việc được biểu diễn bằng công thức sau: M=EIP Trong đó: M là Động lực làm việc; E là Kết quả của mong đợi; I là Phương tiện (Xác suất); P là Sở thích.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Ví dụ định hướng theo công việc Tiền thưởng Đường A Nỗ lực cao Thành tích xuất sắc Ban lãnh đạo công nhận Người lựa chọn Đồng nghiệp tẩy chay mức độ nỗ lực Môi trường xung quanh Quan hệ thân thiện của đồng nghiệp Nỗ lực vừa phải Thành tích vừa phải Đường B Tăng lương bình quân Hình 1.1: Ví dụ lý thuyết mong đợi của Vroom Động cơ Động cơ (Nguồn: Vroom V. Work and Motivation, New York: Wiley) Vroom cho rằng hành vi và động lực làm việc của con người không nhất thiết được quyết định bởi hiện thực mà nó được quyết định bởi nhận thức của con người về những kỳ vọng của họ trong tương lai. Vì vậy, có thể xảy ra trường hợp là cùng làm ở một công ty và cùng một vị trí như nhau nhưng một người có động lực làm việc còn người kia thì không do nhận thức của họ về các khái niệm trên là khác nhau. Do đó, muốn người lao động có động lực hướng tới mục tiêu nào đó (mục tiêu này gắn liền với mục tiêu của tổ chức) thì phải tạo nhận thức ở người lao động rằng nỗ lực của họ sẽ mang lại những phần thưởng như họ mong muốn.
Trước tiên, công ty phải đưa ra những phương hướng, chính sách và truyền thông nó trong tổ chức thật tốt. Tất cả nhân viên biết làm thế nào đạt được mục tiêu cao nhất và với kết quả đạt được này họ sẽ nhận được phần thưởng cao nhất xứng đáng với nỗ lực của họ. Nằm rõ được mục tiêu của tổ chức, mục tiêu của cá nhân và làm thế nào để đạt được cũng như thỏa mãn về thưởng phạt công minh cũng sẽ giúp họ tin rằng những kết quả họ đạt được chắc chắn sẽ nhận được sự ghi nhận cũng như sự tưởng thưởng của công ty từ đó tạo nên được động lực làm việc cao nhất. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Thuyết E-R-G của Alderfer (1972) Alderfer cho rằng hành động của con người bắt nguồn từ nhu cầu và con người cùng một lúc theo đuổi ba nhu cầu cơ bản: nhu cầu tồn tại, nhu cầu quan hệ, và nhu cầu phát triển. Nhu cầu tồn tại: bao gồm những đòi hỏi vật chất tối cần thiết cho nhu cầu tồn tại của con người. Nhóm nhu cầu này có nội dung giống nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn của Maslow. Nhu cầu quan hệ: là những quan hệ và tương tác qua lại giữa các cá nhân.
Nhu cầu quan hệ bao gồm nhu cầu xã hội và một phần nhu cầu tự trọng (được tôn trọng). Nhu cầu phát triển: là đòi hỏi bên trong của mỗi con người cho sự phát triển cá nhân. Nó bao gồm nhu cầu tự thể hiện và một phần nhu cầu tự trọng (tự trọng và tôn trọng người). Điều khác biệt của thuyết này là: Alderfer cho rằng cùng một lúc theo đuổi việc thỏa mãn tất cả các nhu cầu chứ không phải chỉ một nhu cầu như quan điểm của Maslow.
Hơn nữa, Thuyết này còn cho rằng khi một nhu cầu nào đó bị cản trở và không được thỏa mãn thì con người có xu hướng dồn nỗ lực của mình sang thỏa mãn nhu cầu khác. Tức là nếu nhu cầu tồn tại bị cản trở, con người sẽ dồn nỗ lực của mình sang việc theo đuổi nhu cầu quan hệ và nhu cầu phát triển. Điều này giải thích khi cuộc sống khó khăn con người có xu hướng gắn bó với nhau hơn, quan hệ giữa họ tốt hơn và họ dồn nỗ lực đầu tư cho tương lai nhiều hơn. Nhu cầu Nhu cầu Nhu cầu tồn tại quan hệ phát triển Hình1.2: Thuyết E-R-G của Alderfer (Nguồn: Alderfer C.
Existence, relatedness and growth: human needs in organizational setting, New York: Free Press) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Trong cùng một thời điểm, con người có thể có nhiều nhu cầu. Và nếu một nhu cầu ở mức cao hơn không được thỏa mãn, họ sẽ trở lại những nhu cầu ở mức thấp hơn nhưng dễ thỏa mãn hơn. Con người thường hành động theo nhu cầu, chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ hành động. Có thể thấy, việc nhu cầu được thỏa mãn là mục đích hành động của con người.
Vì vậy, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu sẽ thay đổi được hành vi của con người.