Mở đầu Giới thiệu cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 1 : Cơ sở lý luận về động lực làm việc của ngƣời lao động Chƣơng 2: Thực trạng về việc tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động tại Công ty cổ phần may, da xuất khẩu 30/4 Chƣơng 3: Giải pháp nhằm nâng cao động lực làm việc cho ngƣời lao động tại công ty cổ phần may, da xuất khẩu 30/4 Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 123doc 5 CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG 1.1 Những khái niệm cơ bản về động lực Động lực là sự khát khao và tự nguyện của con ngƣời nhằm tăng cƣờng sự nỗ lực để đạt đƣợc mục đích hay một kết quả cụ thể (nói cách khác động lực bao gồm tất cả những lý do khiến con ngƣời hành động). Động lực cũng chịu ảnh hƣởng của nhiều nhân tố, các nhân tố này luôn thay đổi và khó nắm bắt. “Động lực đƣợc hiểu là sự khát khao, tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới việc đạt đƣợc các mục tiêu, kết quả nào đó” (Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2010).
Động lực đƣợc hình thành bởi nhu cầu và lợi ích. Động lực là chính là động cơ thúc đẩy các hành động của con ngƣời. Đây là một trạng thái tồn tại bên trong, hƣớng con ngƣời vào những hành vi có mục đích. Điểm chính của động lực là các cảm xúc, nó dựa trên sự né tránh cộng với những trải nghiệm cảm xúc tiêu cực, tìm kiếm những cảm xúc tích cực.2 Các khái niệm về động lực làm việc 1.1 Khái niệm về động lực làm việc “Động lực làm việc là những yếu tố thúc đẩy con ngƣời thực hiện công việc.
Động lực là những phƣơng tiện mà nhờ chúng các nhu cầu mâu thuẫn nhau có thể đƣợc điều hòa hoặc một nhu cầu đƣợc đề cao hơn để sao cho chúng đƣợc ƣu tiên hơn các nhu cầu khác” (Koontz & công sự, 2004). “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân ngƣời lao động” (Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hƣơng, 2009). Động lực của ngƣời lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi ngƣời lao động.
Do đó mục tiêu của các nhà quản lý là phải tìm cách tạo ra đƣợc 123doc 6 động lực cho ngƣời lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất để phục vụ cho tổ chức. “Động lực của ngƣời lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu suất cao” (Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hƣơng, 2009). “Động lực thúc đẩy và sự thỏa mãn là khác nhau. Động lực thúc đẩy là xu hƣớng và sự cố gắng nhằm đạt đƣợc mong muốn hoặc mục tiêu nhất định còn sự thỏa mãn là sự toại nguyện khi điều mong muốn đƣợc đáp ứng.
Nhƣ vậy, động cơ thúc đẩy ngụ ý xu thế đi tới một kết quả, còn sự thỏa mãn là một kết quả đƣợc thực hiện” (Trần Kim Dung & Nguyễn Ngọc Lan Vy, 2011). Tóm lại, động lực làm việc gồm những đặc điểm sau: - Động lực làm việc gắn liền với một công việc, một tổ chức, một môi trƣờng cụ thể, không có động lực làm việc chung cho mọi lao động. - Động lực làm việc mang tính tự nguyện. - Động lực làm việc không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân, nó có thể thay đổi thƣờng xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau trong công việc.
- Khi các điều kiện đầu vào khác không đổi, động lực làm việc đóng vai trò quan trọng trong sự tăng năng suất lao động. Tuy nhiên động lực làm việc chỉ là nguồn gốc để tăng năng suất lao động chứ không phải là điều kiện để tăng năng suất lao động. Con ngƣời làm việc luôn mong muốn đƣợc khẳng định bản thân, mong muốn thành đạt và một mức thu nhập đảm bảo cuộc sống hằng ngày. Khi con ngƣời đạt đƣợc những vị trí khác nhau họ sẽ có những mong muốn khác nhau.
Do đó nhà quản trị phải có những tác động mạnh đến ngƣời lao động nhằm tạo động lực làm việc cho họ. Động lực làm việc thể hiện qua những công việc làm cụ thể mà mỗi ngƣời lao động đang đảm nhiệm và thái độ của họ đối với tổ chức đó. Động lực lao động phụ 123doc 7 thuộc vào chính bản thân ngƣời lao động và nó nhƣ một sức mạnh vô hình từ bên trong con ngƣời thúc đẩy họ làm việc tốt hơn.2 Đặc điểm động lực làm việc cho ngƣời lao động Động lực lao động luôn đƣợc xác định ở một công việc nào đó, một tổ chức và một môi trƣờng lao động cụ thể với một cá nhân cụ thể. Mỗi cá nhân khác nhau với mỗi công việc khác nhau mà họ đảm nhận, trong điều kiện lao động và thái độ không giống nhau thì bản thân ngƣời lao động sẽ có những động lực làm việc khác nhau.
Đó là đặc điểm mà có thể tác động can thiệp đến ngƣời lao động để phát huy nỗ lực làm việc của họ. Động lực lao động mang tính tự nguyện. Bản thân mỗi ngƣời lao động sẽ cảm thấy đƣợc nỗ lực làm việc tùy từng lúc mà họ cảm thấy thoải mái. Bản chất con ngƣời là thích đƣợc chủ động làm việc nhƣng đối với một tổ chức thì sự chủ động đó phải đƣợc thực hiện trong khuôn khổ.
Do đó cần phải tăng cƣờng tính tự nguyện của ngƣời lao động. Động lực lao động là nhân tố quan trọng đƣa đến việc tăng năng suất làm việc của cá nhân và sản xuất có hiệu quả hơn. Ngƣời lao động cho dù không có động lực lao động thì vẫn có thể hoàn thành công việc đƣợc giao, đạt yêu cầu nhƣng khi đó kết quả công việc không cho thấy đúng đƣợc khả năng của họ. Động lực giúp thúc đẩy ngƣời lao động để họ phát triển công việc, chịu tác động từ phía bản thân ngƣời lao động và môi trƣờng làm việc của tổ chức và những chính sách liên quan trực tiếp đến bản thân họ.3 Các học thuyết và nghiên cứu liên quan đến tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động Các nhà lãnh đạo luôn nhận thức đƣợc tầm quan trọng của việc tạo và nâng cao động lực cho ngƣời lao động nên đã sử dụng nhiều phƣơng pháp khác nhau để truyền cảm hứng cho họ.1 Học thuyết kỳ vọng Thuyết kỳ vọng của của Victor Vroom cho rằng một cá nhân sẽ sẵn lòng làm việc nỗ lực làm việc khi kết quả đạt đƣợc đƣợc đúng nhƣ những gì họ mong đợi.
Động lực làm việc của một ngƣời dựa vào mối quan hệ của ba yếu tố sau: Sự kỳ vọng x Phƣơng tiện x Giá trị phần thƣởng = Động lực Sự kỳ vọng: ngƣời lao động tin rằng những nỗ lực của họ sẽ đạt đƣợc kết quả mong muốn. Phƣơng tiện: họ cho rằng nếu hoàn thành tốt công việc sẽ đạt đƣợc những phần thƣởng hoặc các hệ quả khác liên quan đến kết quả công việc. Giá trị phần thƣởng: đó là giá trị mà ngƣời lao động tin rằng họ sẽ nhận đƣợc khi hoàn thành tốt công việc. Mỗi cá nhân sẽ có mục tiêu, thành tích và mong muốn về giá trị phần thƣởng riêng khác nhau.
Thuyết này cho rằng, động lực làm việc cho mỗi cá nhân chính là việc họ đánh giá sự hấp dẫn của phần thƣởng họ đạt đƣợc khi hoàn thành xong một công việc. Vì vậy, nhà quản trị trị phải điều chỉnh môi trƣờng làm việc, giá trị phần thƣởng sao cho phù hợp với mỗi cá nhân, phải thƣởng cho ngƣời lao động những thứ mà họ đánh giá là tích cực. Thuyết hai nhân tố Thuyết này của McGregor khuyên ngƣời lãnh đạo quan tâm nhiều hơn đến nhu cầu xã hội và việc tự thể hiện của cá nhân tại nơi làm việc. Ông cho rằng bản chất của con ngƣời theo một trong hay thuyết đó là thuyết X và thuyết Y.
Thuyết X cho rằng con ngƣời không muốn làm việc, thiếu khát vọng, không muốn chịu trách nhiệm và ƣa thích việc đƣợc ngƣời khác lãnh đạo. Do vậy, con ngƣời này cần đƣợc tạo động lực bằng tiền lƣơng, thƣởng, quản chế theo các qui định. Thƣờng nhà quản trị sử dụng phƣơng pháp tạo động đƣợc theo dạng cây gậy và củ cà rốt. Trong khi thuyết Y cho rằng con ngƣời luôn sẵn lòng làm việc, có năng lực tự kiểm soát, luôn mong muốn học hỏi, có năng lực tự sáng tạo và định hƣớng, những 123doc 9 ngƣời này không coi trọng phần thƣởng về vật chất, họ coi trọng quyền tự do, phát triển hƣớng vào mục tiêu chung của tổ chức và làm tăng năng suất lao động.
Nói tóm lại, với lý thuyết X và Y, con ngƣời có những động lực làm việc khác nhau. Con ngƣời X bị thúc đẩy bởi vật chất, sự đe dọa và thúc đẩy từ ngƣời khác. Còn đối với con ngƣời theo học thuyết Y, để tạo đƣợc động lực cho họ cần khơi dậy tiềm năng, tạo cơ hội cho họ học tập, thăng tiến trong công việc, ghi nhận những cố gắng của học và có phần thƣởng xứng đáng, hƣớng mục tiêu của chính họ vào mục tiêu chung của tổ chức 1.3 Học thuyết hai nhân tố của Hezrberg Herzberg đã đƣa ra một nhóm các nhân tố duy trì (nhân tố bên ngoài, thuộc về sự thỏa mãn bên ngoài) ngăn ngừa sự bất mãn của ngƣời lao động. Đối với các nhân tố duy trì, Herzberg cho rằng nếu không đáp ứng đƣợc tốt thì sẽ tạo ra sự bất mãn cho ngƣời lao động, nhƣng nếu doanh nghiệp thực hiện tốt thì chỉ ngăn ngừa đƣợc sự bất mãn chứ chƣa chắc đã tạo ra sự thỏa mãn.
Herzberg cũng đƣa ra một nhóm các nhân tố động viên (nhân tố bên trong, nhân tố thỏa mãn bản chất bên trong) làm cho ngƣời lao động thỏa mãn. Đối với các nhân tố động viên của Herzberg cho rằng nếu không đƣợc đáp ứng tốt thì sẽ tạo ra tình trạng không thỏa mãn và chƣa chắc đã làm ngƣời lao động bất mãn, tuy nhiên nếu doanh nghiệp làm tốt đƣợc việc này sẽ thúc đẩy động lực làm việc của ngƣời lao động trong doanh nghiệp, giúp ngƣời lao động yêu công việc, cống hiến hết mình cho tổ chức.