CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực 1. Khái niệm và tầm quan trọng của nguồn nhân lực Nguồn nhân lực - nguồn lực quý giá nhất của các tổ chức là yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của tổ chức trong tương lai. NNL của một tổ chức là tập hợp tất cả các cá nhân tham gia vào bất kỳ hoạt động nào nhằm đạt được các mục tiêu, mục đích của tổ chức đặt ra.
Nguyễn Tiệp (2005), “Giáo trình nguồn nhân lực” cho rằng : NNL là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế- xã hội. NNL có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương (tỉnh, thành phố…) và nó khác với các nguồn lực khác (tài chính, đất đai, công nghệ…) ở chỗ nguồn lực con người với hoạt động lao động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên và trong quá trình lao động nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội. Với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội. Với tư cách khả năng đảm đương lao động chính của xã hội thì nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động (do pháp luật quy định).
Do đó với khái niệm này, NNL thể hiện toàn bộ những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, bao gồm những người từ giới hạn dưới của độ tuổi lao động trở lên và có khả năng lao động (ở nước ta hiện nay là những người đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động). Theo Trần Xuân Cầu & Mai Quốc Chánh (2008), “Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực”: NNL là nguồn lực con người, có quan hệ chặt chẽ với dân số, là bộ phận quan trọng trong dân số, đóng vai trò tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết với ý nghĩa là nguồn gốc là nơi phát sinh ra nguồn lực, NNL nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác.
Thứ hai, NNL được hiểu là tổng thể 4 nguồn lực của từng cá nhân con người, với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, NNL là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định. Đối với Trần Kim Dung (2011), “Giáo trình Quản trị Nguồn nhân lực” thì: Nguồn nhân lực là nguồn lực và khả năng của con người, là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế- xã hội bao gồm số lượng và chất lượng lao động. NNL của tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó. Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, bao gồm cả thể lực và trí lực.
Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm nguồn nhân lực, trong khóa luận này tập trung phân tích về nguồn nhân lực trong một doanh nghiệp. Vì vậy khái niệm NNL có thể được trình bày như sau: “Nguồn nhân lực là bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức, có khả năng huy động và tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như tương lai, thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất”. * Tầm quan trọng của nguồn nhân lực NNL là nguồn lực con người, có tầm quan trọng trong sự phát triển bền vững của doanh nghiệp nói chung và sự phát triển kinh tế xã hội như sau: (Trần Xuân Cầu & Mai Quốc Chánh (2008), “Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực”) - Nhân lực là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất: Quá trình sản xuất là sự kết hợp các yếu tố tư liệu sản xuất (tư liệu lao động, đối tượng lao động) và lao động của con người. Không có yếu tố con người, sẽ không có một quá trình sản xuất nào diễn ra, lúc đó tư liệu sản xuất chỉ là vật chết, chỉ có yếu tố lao động của con người mới làm tư liệu sản xuất sống lại tạo ra sản phẩm mới.
Ngay cả đối với những nước có nền kinh tế phát triển dựa trên cơ sở khoa học kỹ thuật hiện đại, quá trình sản xuất sản phẩm đều hoàn toàn do robot làm việc, cũng không thể thoát ly khỏi sự 5 điều khiển của con người vì chính con người tạo ra và điều khiển chúng làm việc theo một chương trình đã định sẵn. Trong nền kinh tế thị trường, mọi sản phẩm cần thiết cho con người và do con người tạo ra đều là hàng hóa. Sức lao động của nhân lực cũng là hàng hóa- hàng hóa sức lao động, nó được đem trao đổi, mua bán. Khi mua hàng hóa sức lao động- một trong những yếu tố đầu vào của sản xuất, nhà quản lý phải tính toán giống như đối với các yếu tố khác tỏng sản xuất (máy móc, thiết bị, nguyên, nhiên, vật liệu, năng lượng…) để đạt được mục tiêu kinh tế.
Mặt khác, yếu tố lao động là cơ thể sống, là chủ thể trong quá trình sản xuất, người lao động cũng phải tính toán, lựa chọn các phương án tối ưu trong sản xuất để đem lại lợi ích kinh tế cho bản thân. - Nhân lực con người là mục tiêu của sự phát triển: Con người muốn tồn tại và phát triển được cần phải thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu về sản phẩm vật chất và tinh thần. Để có được những sản phẩm đó, con người phải tiến hành sản xuất ra chúng. Chính xuất phát từ những nhu cầu đó mà con người trở thành mục tiêu của sự phát triển.
Nhu cầu của con người ngày càng phong phú về số lượng và nâng cao về chất lượng thì sản xuất càng được cải tiến để sản xuất ra những sản phẩm phù hợp. Mặt khác, trong nền sản xuất và trao đổi hàng hóa, những sản phẩm sản xuất ra suy cho cùng cũng là để thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. - Nhân lực con người là động lực của sự phát triển: Nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình, con người không thể trông chờ vào sự ban ơn của tự nhiên mà phải tiến hành sản xuất. Muốn sản xuất, con người phải có nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, nguồn lực công nghệ…và hợp thành các nguồn lực cho sự phát triển, trong đó nguồn lực con người là yếu tố cách mạng nhất và động nhất.
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, gắn liền với cuộc sống con người vì vậy mới là động lực của sự phát triển. Mặt khác mục tiêu và động lực của sự phát triển là hai phạm trù khác nhau song song nằm trong cùng một chủ thể là con người. Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo là quá trình được hoạch định và tổ chức nhằm trang bị, nâng cao kiến thức và kỹ năng cụ thể cho nhân viên nhằm nâng cao hiệu quả làm việc. Đào tạo nguồn nhân lực là các hoạt động học tập có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm hướng vào việc giúp cho người lao động năm rõ hơn chuyên môn, nghiệp vụ của mình ở công việc hiện tại, bổ sung những kỹ năng, kiến thức còn thiếu để thực hiện công việc hiện tại một cách tốt hơn.
(Nguyễn Ngọc Quân & Nguyễn Vân Điềm (2013), “Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực”) - Là quá trình học tập để chuẩn bị con người cho tương lai, để họ có thể chuyển tới công việc mới trong thời gian thích hợp. - Là quá trình học tập nhằm mở ra cho cá nhân một công việc mới dựa trên những định hướng tương lai của tổ chức. Theo quan điểm này, khi nói đến đào tạo NNL là nói đến việc trang bị cho người lao động kiến thức phổ thông, kiến thức chuyên nghiệp, kiến thức quản lý… Đào tạo NNL là cần thiết cho sự thành công của tổ chức và sự phát triển chức năng của con người. Việc đào tạo NNL không chỉ được thực hiện bên trong một tổ chức, mà còn bao gồm một loạt những hoạt động khác được thực hiện từ bên ngoài như: học việc, học nghề và hành nghề.
Kết quả của quá trình đào tạo NNL sẽ nâng cao chất lượng, phát triển NNL đó là quá trình được hoạch định và tổ chức nhằm trang bị, nâng cao kiến thức và kỹ năng cụ thể cho nhân viên nhằm nâng cao hiệu quả làm việc. => Đào tạo là các hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng NNL của tổ chức, là điều kiện quyết định để các tổ chức có thể đứng vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh. Do đó trong các tổ chức, công tác đào tạo cần phải được thực hiện một cách có tổ chức và có kế hoạch. Mục tiêu và vai trò của đào tạo nguồn nhân lực 1.
Mục tiêu của đào tạo nguồn nhân lực Mục tiêu chung của việc đào tạo và phát triển nhân lực là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của doanh nghiệp thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn với thái độ tốt hơn cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với công việc. Công tác đào tạo phải giúp ích cho doanh nghiệp thực hiện mục tiêu của nó. Do đó, mục tiêu của đào tạo phải nhằm vào mục tiêu của doanh nghiệp trong từng giai đoạn phát triển. Mục tiêu của đào tạo theo Nguyễn Ngọc Quân & Nguyễn Vân Điềm (2013), “Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực” là: - Giúp người lao động thực hiện tốt công việc - Hướng dẫn công việc cho nhân viên mới - Cập nhật kiến thức, kỹ năng cho người lao động - Chuẩn bị đội ngũ cán bộ kế cận 1.
Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực 1. Đối với doanh nghiệp - Giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh.