LỜI MỞ ĐẦU Ngân hàng thương mại đã hình thành và tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Sự phát triển hệ thống ngân hàng đã tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, ngược lại kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. Ngân hàng là một trong những mắc xích quan trọng cấu thành nên hoạt động nhịp nhàng của nền kinh tế. Đối với bản thân các NHTM thì tín dụng là một mảng hoạt động lớn và đóng một vai trò đặc biệt quan trọng.
Tầm quan trọng của hoạt động tín dụng được thể hiện trước hết ở chỗ nó mang lại nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu của các NHTM. Tuy nhiên, tín dụng cũng là hoạt động có rủi ro cao nhất của ngân hàng. Những rủi ro trong hoạt động tín dụng không những khiến cho hoạt động của NHTM kém hiệu quả mà còn có thể gây ra những tổn thất hết sức to lớn và gây ra những ảnh hưởng tiêu cực to lớn đối với cả nền kinh tế. Ngân hàng LD VID Public - Chi nhánh Hải Phòng trong nhưng năm qua rất chú trọng tới hoạt động tín dụng và từng bước hoàn thiện trong hoạt động kinh doanh để đáp ứng nhu cầu phát triền kinh tế đất nước.
Tuy nhiên, chất lượng tín dụng vẫn còn chưa tương xứng với tiềm lực hoạt động của Ngân hàng LD VID Public – Chi nhánh Hải Phòng và bộc lộ những hạn chế nhất định như tiềm ẩn nhiều rủi ro, nợ xấu có xu hướng tăng, thị phần nhỏ hẹp, cơ cấu nợ còn chưa hợp lý. Qua quá trình tìm hiểu, học tập, nghiên cứu và đặc biệt trong quá trình thực tập tại Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo hướng dẫn và các anh chị cán bộ nhân viên trong ngân hàng, em xin nhận viết đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng”. Khóa luận bao gồm 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về chất lƣợng tín dụng của ngân hàng thƣơng mại. Sinh viên: Trần Đại Dương Page 1 Khóa luậ n tố t nghiệ p Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng.
Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng. Là một sinh viên mới được trang bị kiến thức căn bản, thời gian nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, các cán bộ công nhân viên Ngân hàng LD VID Public và bất cứ ai quan tâm đến vấn đề này để đề tài được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên: Trần Đại Dương Page 2 Khóa luậ n tố t nghiệ p CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng với một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng giao quyền sử dụng tiền cho họ với những điều kiện thoả thuận nhất định (thời gian, lãi suất, điều kiện đảm bảo,số lượng) theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Theo Luật các TCTD số 47/2010/QH12 (2010) thì “cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” và “cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Trong các nghiệp vụ tín dụng ngân hàng, cho vay là nghiệp vụ quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại để tài trợ cho chi tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan của Chính phủ. Hoạt động cho vay của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế tại khu vực ngân hàng phục vụ, bởi vì cho vay thúc đẩy sự tăng trưởng của các doanh nghiệp, tạo ra sức sống của nền kinh tế. Đối với hầu hết các NHTM, khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng. Đồng thời, rủi ro trong hoạt động ngân hàng có xu hướng tập trung vào danh mục các khoản cho vay.
Như vậy, tín dụng ngân hàng có nhiều hình thức và cho vay là hình thức chủ yếu và chiếm phần lớn cấp tín dụng của NHTM. Trong phạm vi của khóa luận này, khi đề cập tới tín dụng ngân hàng chỉ giới hạn phạm vi là cho vay của ngân hàng thương mại.2 Đặc trưng của hoạt động tín dụng ngân hàng Bản chất của tín dụng ngân hàng là quan hệ vay, mượn lẫn nhau trên cơ sở hoàn trả và nó có các đặc trưng sau đây: Sinh viên: Trần Đại Dương Page 3 Khóa luậ n tố t nghiệ p -Tài sản trong quan hệ giao dịch tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản). Trước những năm 70 của thế kỷ 20 hoạt động tín dụng của NHTM chỉ có hình thức cho vay bằng tiền. Xuất phát từ tính đặc thù đó mà nhiều lúc thuật ngữ cho vay và tín dụng được coi là đồng nghĩa với nhau.
Từ những năm 70 của thế kỷ 20 trở lại đây các hình thức cho thuê thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán, chiết khấu,. Đã được các ngân hàng và các định chế tài chính khác cung cấp cho khách hàng. Đây là các loại hình tín dụng mới. -Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, bên cho vay khi chuyển tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn gốc và lãi.
Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng. Trong thực tế có không ít cán bộ và nhân viên tín dụng khi thẩm định khách hàng, xét duyệt cho vay không dựa trên cơ sở đánh giá đúng khả năng trả nợ của khách hàng mà chỉ chú trọng đến các tài sản bảo đảm, vì vậy đã gặp khó khăn khi thu hồi nợ vay và ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. -Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, ngân hàng sẽ chỉ phát vay cho bên vay vốn trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện của bên vay. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ thực chất là lệnh phiếu trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán -Giá trị lúc hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm cả phần lãi ngoài vốn gốc cho ngân hàng.3 Chính sách tín dụng Hoạt động tín dụng là hoạt động bao trùm của ngân hàng.
Với tầm quan trọng và quy mô lớn, hoạt động này được thực hiện theo một chính sách rõ ràng được xây dựng và hoàn thiện qua nhiều năm, đó là chính sách tín dụng. Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và các nhân viên ngân hàng, tăng cường chuyên môn hóa trong phân tích tín dụng, tạo ra sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời. Sinh viên: Trần Đại Dương Page 4 Khóa luậ n tố t nghiệ p Toàn bộ các vấn đề có liên quan đến cấp tín dụng nói chung đều được xem xét và đưa ra trong chính sách tín dụng như: Quy mô, lãi suất, kỳ hạn, đảm bảo, phạm vi, các khoản tín dụng có vấn đề và các nội dung khác. Các nội dung cơ bản của chính sách tín dụng được thể hiện chi tiết qua các chính sách cụ thể: Chính sách khách hàng; Chính sách quy mô và giới hạn tín dụng; Lãi suất và phí suất tín dụng; Thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ; Các khoản bảo đảm; Chính sách đối với các tài sản có vấn đề.4 Quy trình tín dụng Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả các bước đi cụ thể từ khi tiếp nhận nhu cầu vay vốn của khách hàng cho đến khi ngân hàng ra quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng.
Hầu hết các NHTM đều tự thiết kế cho mình một quy trình tín dụng cụ thể, bao gồm nhiều bước đi khác nhau với kết quả cụ thể của từng bước đi. Trong quy trình tín dụng, bước lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng là khâu căn bản đầu tiên nhưng rất quan trọng, vì nó là khâu thu thập thông tin làm cơ sở thực hiện các khâu sau, đặc biệt là khâu phân tích và ra quyết định cho vay. Tiếp theo là khâu phân tích tín dụng, khâu này sẽ phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng của khách hàng về sử dụng vốn tín dụng, khả năng hoàn trả và khả năng thu hồi vốn vay cả gốc và lãi, những rủi ro có thể xảy ra và khả năng kiểm soát các rủi ro đó, tính chân thực của hồ sơ vay vốn mà khách hàng cung cấp, thái độ trả nợ của khách hàng. Từ các cơ sở đó để ra quyết định cho vay hay không.
Sau khâu quyết định cho vay và ký hợp đồng tín dụng và hoàn thiện các hồ sơ liên quan sẽ là bước giải ngân. Khâu giám sát tín dụng và kiểm tra sau khi phát vay giúp cho ngân hàng nắm được diễn biến của khoản tín dụng đã cung cấp để có những hành động điều chỉnh hoặc can thiệp khi cần thiết, sớm ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra. Việc lựa chọn và áp dụng có hiệu quả các hình thức kiểm tra sẽ thiết lập được một hệ thống phòng ngừa hữu hiệu cho chất lượng tín dụng, góp phần cải thiện chất lượng tín dụng.