phần mở đầu và phần kết luận, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận liên quan đến chính sách tín dụng ƣu đãi cho ngƣời nghèo. Chƣơng 2: Tình hình thực tế trong công tác cho vay hộ nghèo tại Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Tây Ninh. Chƣơng 3: Các giải pháp để nâng cao chất lƣợng tín dụng hộ nghèo tại Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Tây Ninh. Do trình độ nghiên cứu và nhận thức c n hạn chế nên rất mong nhận đƣợc các ý kiến đóng góp sâu s c của quý Thầy, Cô.
Xin chân thành cảm ơn. 123doc 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN TÍN DỤNG CHO NGƢỜI NGHÈO 1.1 Khái niệm về ngƣời nghèo Phát triển s tất yếu dẫn đến tăng trƣởng và bất bình đẳng về thu nhập do thất bại của chính thị trƣờng và đôi khi là thất bại từ phía Chính phủ. Bất bình đẳng thu nhập tất yếu s tồn tại những ngƣời có thu nhập thấp. Nhóm thu nhập quá thấp thƣờng đƣợc các quốc gia hoặc các tổ chức quốc tế quy thành ngƣời nghèo theo một chu n mực nhất định.
Ở Việt Nam đã đƣa ra nhiều tiêu chu n để đánh giá giàu nghèo nhƣ mức thu nhập, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, chi tiêu gia đình, hƣởng thụ, văn hoá, y tế. Trong đó mức thu nhập là chỉ tiêu quan trọng nhất. Bộ Lao động Thƣơng binh và xã hội là cơ quan thuộc Chính phủ đƣợc Nhà nƣớc giao trách nhiệm nghiên cứu và công bố chu n nghèo của cả nƣớc từng thời kỳ. Chu n mực phân loại hộ nghèo do Thủ tƣớng Chính phủ ban hành theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005, hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân nhƣ sau: Từ 260.000 đồng/ngƣời/tháng trở xuống ở khu vực thành thị.000 đồng/ngƣời/tháng trở xuống ở khu vực nông thôn.
Theo cách đánh giá này, đến đầu năm 2006 nƣớc ta có khoảng 4,2 triệu hộ nghèo, chiếm 26% tổng số hộ trong cả nƣớc. C n theo tiêu chu n đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), yêu cầu về Calo theo đầu ngƣời là 2.100 Calo mỗi ngày. Trên cơ sở một gói lƣơng thực có tính đại diện và có tính đến sự biến động về giá cả theo vùng đối với từng mặt hàng, WB tính ra mức nghèo bình quân có thu nhập 4,2 triệu VND/ngƣời/năm. Dựa theo tiêu chí trên, WB đã khảo sát mức sống ở Việt Nam và kết luận tính đến đầu năm 2006 ở Việt Nam có 32% dân số đƣợc xếp vào loại nghèo, trong đó 90% tập trung ở vùng nông thôn.
Dù cách đánh giá nào, ngƣời nghèo hiện nay ở Việt Nam vẫn c n khá lớn.2 Tài chính vi mô cho ngƣời nghèo Tài chính vi mô đã hình thành và phát triển nh m mang lại lợi ích cao nhất cho ngƣời nghèo và từ đó góp phần làm tăng chất lƣợng tăng trƣởng. Tài chính vi mô chủ yếu đề cập tới các hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính cho những ngƣời có thu nhập thấp ở cả thành thị và nông thôn. Các dịch vụ tài chính này thƣờng bao gồm tín dụng và tiết kiệm. Bên cạnh vai trò trung gian tài chính, nhiều tổ chức thực hiện tài chính vi mô còn cung cấp dịch vụ trung gian xã hội nhƣ thành lập nhóm, củng cố lòng tin và đào tạo về kiến thức tài chính c ng nhƣ năng lực quản lý của các thành viên nhóm đƣợc đánh giá là nghèo và cần tài trợ.
Tài chính vi mô bao gồm tín dụng vi mô và tiết kiệm vi mô. Các hoạt động tín dụng vi mô thƣờng liên quan đến: các khoản vay nh , thƣờng cho mục đích bổ sung vốn lƣu động nên kỳ hạn khoản vay thƣờng là ng n hạn và trung hạn; trả góp (vốn và lãi) theo một lịch trình đƣợc quy định khá nghiêm ngặt và đƣợc giám sát theo nhóm. Hoạt động cho vay liên quan đến th m định không chính thức ngƣời vay vốn và các cơ hội đầu tƣ, các hình thức thay thế tài sản thế chấp nhƣ tín chấp, bảo lãnh qua nhóm là những đặc điểm ƣu việt mà các ngân hàng truyền thống rất ít sử dụng. Việc đánh giá và cho vay món mới với giá trị cao hơn dựa trên cơ sở khả năng hoàn trả vốn vay theo lịch của ngƣời vay.
Thủ tục giải ngân và giám sát món vay đơn giản. Các tổ chức tín dụng thƣờng thực hiện cho vay vi mô với mục đích tăng cƣờng khả năng tiếp cận đến nhiều khách hàng hơn. Nguồn vốn tài trợ cho hoạt động tín dụng vi mô thƣờng đƣợc huy động hoặc do Chính phủ tài trợ và một số các nhà tài trợ nhƣ các tổ chức phi Chính phủ và các công ty đa quốc gia. Các tổ chức tài chính vi mô có thể là các tổ chức phi Chính phủ, hợp tác xã tín dụng và tiết kiệm, các ngân hàng chính sách.
Khách hàng của thực hiện tài trợ cho ngƣời nghèo theo tiếp cận tài chính vi mô chủ yếu là những ngƣời lao động, các hộ sản xuất có quy mô nh tại các vùng nông thôn và thành thị. Bên cạnh đó, họ còn là những ngƣời buôn bán nh , bán hàng rong, nông dân, những ngƣời cung cấp dịch vụ (c t tóc, đạp xích lô,…), thợ thủ công và các tổ sản xuất nh nhƣ thợ rèn, thợ may,… Thông thƣờng, công việc của họ mang lại cho họ nguồn thu nhập ổn định với quy 123doc 10 mô nh song từ nhiều nguồn khác nhau. Vì vậy, cần thiết phải nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng cho ngƣời nghèo, nhƣng ngƣời nghèo lại thiếu rõ rệt khả năng thế chấp. Điều đó có ngh a là nâng cao khả năng cung cấp tín dụng cho ngƣời nghèo c ng có ngh a là nâng cao tính rủi ro trong việc thu hồi nợ.
Cách tiếp cận truyền thống của các ngân hàng yêu cầu thế chấp các khoản tín dụng là không khả thi đối với ngƣời nghèo. Ngân hàng đã và đang nỗ lực áp dụng kỹ thuật tài chính vi mô với kỳ vọng nâng cao khả năng cung cấp tín dụng đến với ngƣời nghèo. Cho dù với nhiều cố g ng nhƣng các ngân hàng hiện nay c ng khó lòng bao quát tất cả các khách hàng là ngƣời nghèo, đặc biệt là những ngƣời nghèo ở nông thôn và các vùng sâu vùng xa. Các tổ chức đoàn thể xã hội tham gia thực hiện tài chính vi mô cho các hộ nghèo nhƣ Hội Nông dân, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên và các tổ chức phi chính phủ mặc dù đã có những thành công nhất định nhƣng lại thiếu bền vững về các nguồn cung tín dụng.
Nhƣ vậy vẫn còn một khoảng trống để những ngƣời cho vay nặng lãi hoạt động trong phân khúc khách hàng nghèo. Đến đây chúng ta thấy vai trò của Chính phủ là hết sức cần thiết trong việc tác động b ng cách cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin và xác lập mối quan hệ giữa các ngân hàng với ngƣời nghèo b ng luật thông qua các trung gian tổ chức đoàn thể hiệu quả tại các địa phƣơng. Cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng các địa phƣơng s giúp giảm chi phí giao dịch của cả hai bên ngân hàng và ngƣời nghèo. Cải thiện hệ thống thông tin ở địa phƣơng s dễ dàng chuyển tải các dịch vụ tín dụng phục vụ ngƣời nghèo hiệu quả hơn, và đặc biệt quan trọng là ngƣời nghèo bƣớc đầu biết đƣợc ngoài các khoản tín dụng của ngƣời cho vay nặng lãi tại địa phƣơng họ còn có thể có một lựa chọn khác từ phía các ngân hàng với lãi suất hấp dẫn hơn.
Việc xác lập mối quan hệ giữa các ngân hàng với ngƣời nghèo qua kênh bảo lãnh là các tổ chức đoàn thể địa phƣơng s hạn chế đi rất nhiều ƣu thế truyền thống của những ngƣời cho vay nặng lãi chuyên dựa vào mối quan hệ huyết thống, bạn bè, làng xã, phƣờng hội,… Qua các tổ chức đoàn thể, các ngân hàng có thể n m 123doc 11 rất ch c thông tin về ngƣời nghèo đến tận gốc rễ và từ đó có khả năng áp dụng các kỹ thuật liên quan đến tài chính vi mô hƣớng về ngƣời nghèo.3 Sự cần thiết phải hỗ trợ vốn cho ngƣời nghèo 1.1 Khái quát về tình trạng nghèo đói ở Việt Nam Thành tựu 25 năm đổi mới đã ảnh hƣởng ngày càng sâu rộng tới mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội của đất nƣớc, đƣa nƣớc ta thoát kh i khủng hoảng và bƣớc vào một giai đoạn phát triển mới, đ y nhanh tốc độ phát triển kinh tế tiến tới phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tuy vậy, Việt Nam vẫn đƣợc xếp vào nhóm các nƣớc nghèo của thế giới. Tỷ lệ hộ đói nghèo của Việt Nam c n khá cao. Theo kết quả điều tra mức sống dân cƣ theo chu n nghèo chung của quốc tế, tỷ lệ đói nghèo này vào khoảng 32%.
Theo chu n nghèo của Chƣơng trình xoá đói giảm nghèo quốc gia giai đoạn 2006 - 2010 có khoảng 4,2 triệu hộ nghèo, chiếm 26% tổng số hộ trong cả nƣớc. Nghèo đói phổ biến trong những hộ có thu nhập bấp bênh Mặc dù Việt Nam đã đạt đƣợc những thành công rất lớn trong việc giảm tỷ lệ hộ nghèo, tuy nhiên c ng cần thấy r ng, những thành tựu này vẫn c n rất mong manh. Thu nhập của một bộ phận lớn dân cƣ vẫn n m giáp ranh mức nghèo, do vậy chỉ cần những điều chỉnh nh về chu n nghèo, c ng khiến họ rơi xuống ngƣỡng nghèo và làm tăng tỷ lệ hộ nghèo. Phần lớn thu nhập của ngƣời nghèo từ nông nghiệp.
Với điều kiện nguồn lực rất hạn chế (đất đai, lao động, vốn), thu nhập của những ngƣời nghèo rất bấp bênh và dễ bị tổn thƣơng trƣớc những đột biến của mỗi gia đình và cộng đồng. Nhiều gia đình tuy mức thu nhập ở trên ngƣỡng nghèo nhƣng vẫn giáp ranh với ngƣỡng nghèo đói vì vậy khi có dao động về thu nhập c ng có thể khiến họ trƣợt xuống ngƣỡng nghèo. Tính vụ mùa trong sản xuất nông nghiệp c ng tạo nên khó khăn cho ngƣời nghèo. Nghèo đói tập trung ở các vùng có điều kiện sống khó khăn 123doc 12 Đa số ngƣời nghèo sống trong các vùng tài nguyên thiên nhiên rất nghèo nàn, điều kiện tự nhiên kh c nghiệt nhƣ vùng n i, vùng sâu, vùng xa hoặc ở các vùng Đồng b ng sông Cửu Long, miền Trung, do sự biến động của thời tiết (bão, lụt, hạn hán) khiến cho các điều kiện sinh sống khó khăn.