CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm Tín dụng là một phạm trù của nền kinh tế hàng hoá. Quan hệ tín dụng phát sinh từ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất của các chủ thể trong nền kinh tế. Đã có nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng được đưa ra. Song khái quát lại có thể hiểu tín dụng theo khái niệm cơ bản sau: “Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hay tài sản cho bên kia sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hay tài sản cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thỏa thuận ”.
[16, tr52] Tín dụng ngân hàng là một hình thức phát triển cao của tín dụng, tuy nhiên nó vẫn giữ nguyên được bản chất ban đầu của quan hệ tín dụng. Theo Luật các tổ chức tín dụng: Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. [15] Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa bên cho vay (Ngân hàng) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó Ngân hàng chuyển quyền sử dụng v ố n cho bên đi vay trong một khoảng thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi cho Ngân hàng khi đến hạn thanh toán. 5 Đây là quan hệ tín dụng gián tiếp mà ngân hàng đóng vai trò trung gian huy động vốn từ các chủ thể có nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để cho vay đối với các chủ thể có nhu cầu về vốn.
Vì thế, tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó luôn đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt đầy đủ và kịp thời.2 Đặc điểm tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Một là, Quan hệ tín dụng được thiết lập trên cơ sở lòng tin. Các DNNVV tin rằng sau một khoảng thời gian nhất định, phương án và dự án kinh doanh của họ sẽ có hiệu quả và tạo ra lợi nhuận đảm bảo nguồn trả nợ cho ngân hàng. Các Ngân hàng cũng tin tưởng rằng sau khoảng thời gian đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, khách hàng sẽ hoàn trả đầy đủ và đúng hạn cả gốc và lãi vay. Như vậy cơ sở lòng tin này được hình thành thông qua uy tín của DNNVV, giá trị tài sản bảo đảm, tính khả thi và hiệu quả của phương án SXKD, uy tín của người bảo lãnh.
Hai là, Tín dụng ngân hàng mang tính thời hạn. Thời hạn của một khoản vay phụ thuộc vào đặc điểm luân chuyển vốn, chu kỳ SXKD của doanh nghiệp, tính chất nguồn vốn của ngân hàng. Ba là, Tín dụng ngân hàng mang tính hoàn trả. Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay.
Điều đó có nghĩa là, doanh nghiệp vay vốn phải hoàn trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. Lãi cho vay chính là chi phí cho việc sử dụng vốn của DNNVV trong một khoảng thời gian nhất định. Bốn là, Tín dụng ngân hàng đối với DNNVV mang tính rủi ro cao. Khả năng thu hồi nợ của Ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả SXKD của DNNVV.
Trong khi đó môi trường kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên biến động, chịu tác động của nhiều nhân tố: lạm phát, sự biến động tỷ giá, lãi suất thị trường.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 6 a) Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu, tập trung vào sản xuất và khai thác tối đa tiềm năng của doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong nền kinh tế thị trường hiếm có doanh nghiệp nào chỉ sử dụng vốn tự có của mình để SXKD. Vì như vậy sẽ gây lãng phí, hạn chế khả năng mở rộng sản xuất cũng như làm tăng giá vốn của doanh nghiệp. Thông thường ngoài vốn tự có, doanh nghiệp thường sử dụng vốn đi vay từ ngân hàng. Tuy nhiên nếu sử dụng vốn vay quá lớn sẽ làm tăng chi phí trả lãi, giảm lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Do vậy các DNNVV cần thiết phải xây dựng một cơ cấu vốn tối ưu với tỷ lệ nợ vay hợp lý. Điều này không những làm giảm bớt rủi ro mất vốn cho doanh nghiệp mà còn giúp doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất. b) Tín dụng ngân hàng thực hiện quá trình huy động nguồn vốn nhàn rỗi đưa vào đầu tư, đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được liên tục và góp phần tái sản xuất mở rộng nền kinh tế Thông qua quá trình tập trung và phân phối vốn, NHTM với tư cách là trung gian tài chính, tiến hành huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của tất cả các thành phần kinh tế và trong dân cư để cho vay đối với nền kinh tế. Nhờ nguồn vốn mà ngân hàng cho vay, doanh nghiệp không những đảm bảo cho hoạt động SXKD không bị gián đoạn mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
Từ đó các doanh nghiệp sẽ thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng. Như vậy tín dụng ngân hàng không chỉ còn là nguồn vốn bổ sung để bù đắp nhu cầu vốn tạm thời mà đã dần trở thành nguồn vốn chủ yếu, quan trọng trong hoạt động SXKD của các DNNVV hiện nay. c) Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tạo áp lực buộc các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả 7 Bản chất của tín dụng ngân hàng không phải là hình thức cấp phát vốn mà phải hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn đã thoả thuận. Do vậy có thể trả hạn cho ngân hàng và tạo lập được uy tín trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng, doanh nghiệp phải hoạt động có hiệu quả.
Như vậy, tín dụng ngân hàng cũng là một yếu tố kých thích doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả, tiết kiệm, đảm bảo tạo ra tỷ suất lợi nhuận lớn hơn lãi suất ngân hàng để có thể trả được nợ vay. Về phía ngân hàng, để đảm bảo an toàn tránh rủi ro không thu hồi được vốn, ngân hàng chỉ cho vay đối với doanh nghiệp có uy tín, có phương án SXKD khả thi hiệu quả. Muốn vậy doanh nghiệp phải tìm hiểu kỹ thị trường, định hướng hoạt động SXKD có hiệu quả, đồng thời thúc đẩy đổi mới công nghệ, cải tiến sản phẩm để rút ngắn chu kỳ sản xuất, tăng nhanh vòng quay vốn để nâng cao vị thế trên thị trường, tạo lập uy tín đối với ngân hàng. Trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng tín dụng, ngân hàng thường xuyên kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải sử dụng vốn vay đúng mục đích để đem lại hiệu quả cao nhất.
Bên cạnh đó, vai trò tư vấn của cán bộ tín dụng giúp doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn để tiến hành hoạt động SXKD có hiệu quả. d) Tín dụng ngân hàng kích thích tính năng động linh hoạt của các doanh nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thị trường Trong nền kinh tế thị trường hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Khi nhu cầu của thị trường ngày càng cao, để có thể đứng vững trên thị trường các DNNVV phải chủ động ứng dụng những thành tựu mới, đổi mới công nghệ, hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, nâng cao chất lượng lao động, tìm kiếm thị trường mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp. Để thực hiện những hoạt động này, đòi hỏi một khối lượng lớn 8 về vốn, có thể vượt quá khả năng vốn tự có của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp đã giải quyết những khó khăn trên bằng cách tìm tới sự hỗ trợ của ngân hàng. Nguồn vốn tín dụng ngân hàng giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình SXKD, giúp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường, từ đó tạo chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh. e) Tín dụng ngân hàng giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần tạo nên một cơ cấu kinh tế hợp lý và là công cụ tài trợ lực cho các ngành kinh tế mũi nhọn và các ngành kinh tế kém phát triển Tín dụng ngân hàng là một công cụ hữu hiệu cho việc thay đổi cơ cấu SXKD trong mỗi doanh nghiệp, điều hoà lượng cung cầu về vốn trong nền kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế bằng việc di chuyển vốn từ ngành này sang ngành khác. Các nhà SXKD sẽ dễ dàng chuyển từ những ngành có lợi nhuận thấp sang ngành có lợi nhuận cao, tạo điều kiện cho việc bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế nhằm hình thành nên một cơ cấu kinh tế hợp lý.
Đối với những ngành kinh tế mũi nhọn hoặc những ngành kinh tế kém phát triển, Ngân hàng sẽ thực hiện những chính sách ưu đãi về lãi suất, giúp các ngành nghề hay khu vực đó dễ dàng tiếp cận được vốn vay Ngân hàng, thông qua đó làm đòn bẩy để các ngành đó phát triển. f) Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế Trong xu thế hội nhập quốc tế, mối quan hệ giữa các nước trong khu vực và trên thế giới mở rộng, phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá đã và đang là hai lĩnh vực hợp tác kinh tế phổ biến nhất giữa các nước. Ngân hàng với tư cách là tổ chức kinh doanh tiền tệ, thông qua hoạt động cho vay, bảo lãnh trở thành người cung cấp vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá.
Đồng thời nguồn tín dụng bên ngoài cũng góp phần phát triển nền kinh tế đất 9 nước.